Chương 1. Thực trạng công tác quản lý xây dựng tại thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 1. Khái quát về thị trấn Xuân An, huyện Nghỉ Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 1. Sơ lược lịch sử hình thành thị trấn Xuân An huyện Nghỉ Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
[12] Tháng 10 năm 1962 đội khảo cô học của vụ bảo tồn, bảo tàng Bộ 'Văn hóa tiền hành khai quật di chỉ văn hóa đồ đồng Đông Sơn ở di chỉ Núi Cơm xã Xuân An đã tìm thấy nhiều công cụ bằng đồng thau như rìu đồng, rìu lưỡi xéo, lưỡi cày đồng dao và mũi tên đồng cùng với mảnh nồi nấu đồng còn dính xỉ đồng Tiếp đến trên đất Xuân An các nhà khảo cổ học còn tìm thấy đồ gốm thời Bắc thuộc ở di chỉ Núi Cơm, nằm rải rác ven Sông Lam và trong đồng ruộng ở vùng làng Thượng Thôn, Trung Lộc, Mộ Củi thời Trần ở Cén Cao Thượng Thôn; Những hiện vật khảo cỗ học ấy đã cho thấy sự tồn tại của con người 'Việt cổ trên đất Xuân An có niên đại trên dưới 3000 năm. Tương ứng thời đại Hùng Vương với nền văn hóa đồng thau Đông Sơn; Cư dân đầu tiên sống trên đất Xuân An chính là bộ tộc người Việt cỗ thời Hùng Vương dựng nước, trải qua gần 1000 năm bắc thuộc và đến buổi đầu quốc gia Đại Việt tự chủ đã trở thành làng xóm: đó là Kẻ Lách, Kẻ Lau là Khải Mông ở các triều đại Lý Trần nơi có chùa Thanh Lương được xây dựng thời nhà Lý và được xem là “Quốc tự” Từ Kẻ Lau, Kẻ Lách, Khải Mông đến trước năm 1945 trở thành xã An Lạc có 3 làng: Thượng Thôn, Trung Lộc và Gia Hòa thuộc tổng Tam Xuân và làng Khải Mông thuộc xã Khải Mông thuộc tổng Xuân Viên trước cách mạng tháng 8 năm 1945. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, 13 ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ở huyện Nghỉ Xuân và tỉnh Hà Tĩnh không lập chính quyền cấp xã. Đến tháng 12 năm 1945, sau ngày khôi phục lại tỉnh ủy Hà Tĩnh có chủ trương bỏ chính quyền cấp làng và tông, thống nhất toàn tỉnh chỉ có chính quyền ba cắp (xã, huyện và tỉnh).
Xã An Lạc có 3 thôn (Thượng Thôn, Trung Lộc, Gia Hòa, làng (xã) Khải Mông sáp nhập với các thôn Tiên Cau, Ta Ao, Bau Lam và Câm Mỹ thành xã mới và đổi tên là Giang Nam), Đến cuối năm 1949, thực hiện chủ trương hợp xã của Ủy ban kháng chiến hành chính Hà Tĩnh, hai xã An Lạc và Giang Nam hợp nhất thành xã lớn là xã An Giang. Tháng 5/1954, thực hiện chủ trương của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4, chia xã lớn thành xã nhỏ như sau thời ký cách mạng tháng 8 năm1945 và tắt cả các xã mới đều có một từ chung là Xuân. Do đó, xã An Giang được chia thành hai xã là Xuân An và Xuân Giang. Xã Xuân An lúc này ó 3 làng Thượng Thôn, Trung Lộc, Gia Hòa và Khải Mông có 447 hộ, 1806 nhân khẩu (trong đó gần 1⁄4 là giáo dân).
Đến năm 1994, thị trấn Xuân An được thành lập theo Nghi định số 48/1994/NĐ-CP ngày 08/6/1994 của Chính phủ trên cơ sở xã Xuân An hiện tại; 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Vị trí địa lý, dân số, tôn giáo Xuân An là một thị trấn của huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, có diện tích tự nhiên 10,46 km° với dân sô 11 nghìn người, nằm ngay bờ tả Sông Lam phía nam cầu Bến Thuỷ, cách trung tâm thành phố Vinh - Nghệ An 5 km, cách trung tâm thị xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh 17 km, cách trung tâm thành phố Hà Tĩnh 40 km. Thi tran Xuân An nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc huyện Nghỉ Xuân - Tinh Hà Tĩnh, là một đô thị công nghiệp dịch vụ của 14 huyện Nghi Xuân gắn kết trực tiếp với thành phó Vinh qua cầu Bến Thuỷ.
Thị trấn Xuân An nằm trên quốc lộ 1A, quốc lộ 8B là các trục giao thông. lớn của quốc gia, thị trấn Xuân An hiện đang là trung tâm về thương mại dịch vụ và công nghiệp của huyện Nghi Xuân. Trên địa bàn Thị trấn có nhiều công trình cơ quan, trường học, chợ, các cơ sở công nghiệp. với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ đang phát triển mạnh.
Thi tran Xuân An gồm có 13 tô dân phó: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 8A, 8B, 9, 10, 11 và 12; Tập trung ở 04 khu vực: af Thugng Thén gém t6 dan phé 1, 2, 3, 4 va 5; Trung Léc gém t6 dan phé 2 va 7; Gia Hoa gém t6 dan phé 8A, 8B va 9; Khai Mông gồm tổ dân phố 10, 11 va 12; Dân số, tôn giáo: Tổng số hộ dân có hộ khẩu thường trú 2766 hộ, 1 1000 nhân khẩu; ï inRuyenNghiXuanirongfinh_ kia Tíni Hình 1.1: Vị trí thị trấn Xuân An trong khu vực [28] 15 Trên địa bàn thị trấn Xuân An tồn tại hai tôn giáo là Phật giáo và Thiên chúa giáo (chiếm 1⁄4 dân số thị trắn). Đặc diểm địa hình, khí hậu, thủy văn * Địa hình Khu vực thị tran Xuan An: thud vùng 1, Bắc ven sông Lam, Tay Nam ven chân núi Hồng Lĩnh, địa hình bằng phẳng, cao độ nền khu vực đã xây dựng khoảng 3,5+6,4m theo hướng từ chân đê đến QL8B. * Khí hậu Khu vực thị trấn Xuân An có khí hậu điển hình là nhiệt đới gió mùa. bị chỉ phối bởi yếu tố địa hình sườn núi Hồng Lĩnh nên có sự phân hoá rất khắc nghiệt, được chia làm 2 mùa là mùa khô (từ tháng 4 đến tháng 8) và mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau).
Địa bàn có nền nhiệt tương đối cao, cu thé: - Téng tich 6n hang năm: 5,07°C - Nhiét d6 binh quan hang nam: 23,8°C ~ Nhiệt độ tối cao: 37,8°C ~ Nhiệt độ tối thấp: 8,8°C Các tháng giữa mùa đông tương đối lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng 19,5°C, mùa hè trung bình từ 27 - 29°C. Biên độ nhiệt ngày và đêm có sự chênh lệch khác nhau tuỳ theo mùa; mùa hè thường lớn hơn mùa đông từ 1,5 -2%C; ~ Lượng mưa: lượng mưa tương đối lớn (trên 2000 mm/năm) nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa chủ yếu tập trung từ cuối tháng § đến tháng I1 với lượng mưa lên tới 300 - 400 mmítháng, số ngày mưa phổ biến từ 150 - 160 ngày. Các tháng còn lại chỉ chiếm khoảng 26% lượng mưa cả năm. 16 - Số giờ nắng: Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1700 giờ, các tháng mùa đông trung bình 70 - 80 giờ, các tháng mùa hè trung bình từ 180 - 190 giờ.
Tháng có nhiều giờ nắng nhất là tháng 5 (trên 210 giờ), - Gió: tốc độ gió trung bình cả năm là 1,88 m/s, tuy nhiên vào các tháng 7 - 10 thường có bão kèm theo mưa. Ngoài ra, mùa Đông còn có hiện tượng sương mù. * Thuỷ văn Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng bởi hệ thống sông Lam và các con suối nhỏ trên địa bàn. Sông Lam chảy qua địa bàn huyện với tổng chiều dài 28km được hợp bởi hệ thống sông Ngàn Sâu và sông Ngàn Phố của 2 huyện Hương Khê và Hương Sơn chảy theo hướng Tây Bắc.
Lưu lượng dòng chảy bình quân năm của các sông khoảng 15m3/s; mùa lũ có thể đạt tới trên 3000 m3/s. Ngoài ra chế độ thuỷ văn của sông Lam, huyện còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Chế độ thuỷ triều ở đây có khoảng 2/3 số ngày trong tháng là nhật triều còn lại là bán nhật triều, thời gian thuỷ triều đâng kéo dài hơn thời gian thuỷ triều rút Nguồn nước sông Lam nhiễm mặn nên không sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt c. Điều kiện Kinh tế - xã hội [22] Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: Công nghiệp, thương mại dịch vụ.
Nông nghiệp năm 2010 là 20% năm 2014 là 10%. Dịch vụ, thương mại du lich năm 2010 là 45%, năm 2014 là 50%. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2010 là 35%, năm 2014 là 40%. Các chỉ tiêu cơ bản đạt vẻ kinh tế: Téc độ tăng trưởng kinh tế: 15%/năm; T7 Thu nhập bình quân đầu người: 27,5 triệu đồng/người/năm.
Tổng sản lượng cây lương thực quy thóc: 488 tấn. Thu ngân sách năm 2014 đạt: 10 tỷ đồng. Tỷ lệ gia đình văn hóa: 79%. Tỷ lệ hộ nghèo: 5,95 %.
Tỳ lệ hộ cận nghèo: 9. Tỷ lệ tăng dân số: 1,26%. Các trường Mầm non, trạm Y tế giữ vững chuẩn Quốc gia mức độ 2, trường Tiểu học đạt chuân mức I; Quốc phòng an ninh được giữ vững; Trên địa bàn thị trấn hiện nay có 85 cơ sở TTCN, 436 cơ sở thương mại, ăn uống, dịch vụ du lịch, chợ thị trắn Xuân An đạt loại 2 1. Thực trạng phát triển đô thị trên địa bàn thị trấn Xuân An 1.
Vấn đề đô thị hóa Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, thị trắn Xuân An huyện Nghi Xuân dang dan thay đổi tư duy, lối sống trong mỗi người dân nơi đây. Tốc độ đô thị hóa đang diễn ra khá nhanh trên địa bản thị trấn này, từ một xã thuần nông với 447 hộ, 1806 nhân khẩu đến nay sau 70 năm hình thành và phát triển thị trấn Xuân An đã trở thành đô thị loại 5 với 2766 hộ, 11000 nhân khẩu chủ yếu hoạt động trên lĩnh vực phi nông nghiệp; nhiều công trình cơ quan, trường học, chợ, các công trình thương mại- dịch vụ, các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển mạnh đa dạng đã đang mang lại nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, giúp thị trần tăng thu ngân sách đây nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, thị trấn Xuân An đang từng bước xây dựng, cơ sở vật chất tạo tiền đề đề trở thành đô thị loại 4 vào năm 2020; 18 Tuy nhién ty 16 dé thi hod chi dat khoang 15,7% la rat thấp so với tỷ lệ đô thị hoá chung hiện nay của toàn quốc là là 34,5%.
Dé đạt được chỉ tiêu chung của toàn quốc trong giai đoạn tới huyện Nghỉ Xuân cần lập chiến lược phát triển đô thị, sắp xếp, điều chỉnh mở rộng và phát triển đô thị mới. Trước mắt cần triển khai đầu tư xây dựng các đô thị theo quy hoạch hiện có: khu đô thị Xuân An và Khu đô thị Nam bờ Sông Lam, đặc biệt là cần nghiên cứu phát triển thị trấn Xuân An với vai trò thị trắn công nghiệp, dịch vụ thương mại, đầu mối giao thông, trở thành đầu tầu cho phát triển kinh tế xã hội của huyện.