Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch toàn cầu đóng góp khoảng 10,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn thế giới, khẳng định vị thế là ngành kinh tế dịch vụ mũi nhọn thúc đẩy thương mại và việc làm. Tại Việt Nam, sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường du lịch được thể hiện rõ nét qua các cột mốc: năm 2007 toàn ngành đã đón 4,1 triệu lượt khách quốc tế và 17 triệu lượt khách nội địa, tạo ra tổng nguồn thu đạt 3,7 tỷ USD; mục tiêu năm 2010 hướng tới mốc 17 triệu lượt khách quốc tế và 25 đến 26 triệu lượt khách nội địa với doanh thu khoảng 4 đến 4,5 tỷ USD. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò cầu nối trung gian quan trọng, trực tiếp tổ chức chuỗi cung ứng dịch vụ trọn gói từ lưu trú, vận chuyển đến tham quan giải trí.

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa luôn chịu tác động sâu sắc bởi tính mùa vụ, đặc biệt là mùa du lịch lễ hội diễn ra vào các tháng đầu năm âm lịch. Thực trạng quá tải tại các điểm đến tâm linh, sự leo thang chi phí dịch vụ đầu vào và tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên trách đặt ra thách thức lớn đối với hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để vừa gia tăng quy mô khách hàng, vừa tối ưu hóa chi phí vận hành và nâng cao tỷ suất sinh lời trong giai đoạn cao điểm ngắn hạn.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh lữ hành, khảo sát toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh mùa lễ hội giai đoạn 2006 - 2008 tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Du lịch Long Huy (thành phố Hải Phòng), từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ về nhân sự, định giá, liên kết chuỗi cung ứng và xúc tiến bán hàng. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi đưa ra các giải pháp giúp doanh nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu mùa lễ hội vượt mức 37,2% tổng doanh thu toàn năm, đồng thời nâng cao biên lợi nhuận trên chi phí vượt ngưỡng 6% và chuẩn hóa chất lượng dịch vụ lữ hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của ba nền tảng lý thuyết chính: Lý thuyết kinh tế du lịch và quản trị kinh doanh lữ hành theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005; Lý thuyết quản trị chi phí và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế của Pionik về ngành định hướng tài nguyên; Lý thuyết về tính mùa vụ (Seasonality Theory) trong du lịch dịch vụ. Theo Luật Du lịch Việt Nam, hoạt động lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho du khách. Doanh nghiệp lữ hành thực hiện chức năng tổ chức sản xuất các sản phẩm dịch vụ tổng hợp, phân phối sản phẩm của nhà cung cấp và kết nối trực tiếp cung - cầu trên thị trường.

Khái niệm hiệu quả kinh tế lữ hành phản ánh trình độ sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào như nhân lực, vốn lưu động, tài sản cố định và tài nguyên du lịch để tạo ra khối lượng sản phẩm dịch vụ tối đa với tổng chi phí thấp nhất. Mô hình nghiên cứu vận dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá định lượng toàn diện, bao gồm:

  • Chỉ tiêu kết quả tài chính: Tổng doanh thu từ các chương trình tour, Lợi nhuận trước và sau thuế, Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí.
  • Chỉ tiêu năng suất lao động: Năng suất lao động bình quân theo doanh thu (tính bằng tỷ số giữa tổng doanh thu và tổng số lao động) cùng năng suất lao động theo tổng số ngày khách phục vụ.
  • Chỉ tiêu sản lượng và thị trường: Tổng số lượt khách, số ngày khách thực hiện, độ dài trung bình của chuyến đi và quy mô khách trung bình trong mỗi chương trình tour.

Mô hình phân tích phân định rõ hai nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả lữ hành: nhóm nhân tố khách quan bao gồm môi trường tự nhiên, biến động kinh tế - xã hội, đối thủ cạnh tranh, tính thời vụ và nhóm nhân tố chủ quan gồm chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên, năng lực quản trị điều hành, chính sách giá và mối quan hệ với nhà cung cấp vận tải - khách sạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, cơ cấu lao động và bảng giá 24 tour du xuân giai đoạn 2006 - 2008 của Công ty Du lịch Long Huy; kết hợp dữ liệu thống kê từ Tổng cục Du lịch và Sở Kế hoạch & Đầu tư thành phố Hải Phòng. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình khảo sát thực địa, ghi nhận phản hồi từ du khách và đánh giá chuyên môn của đội ngũ điều hành tour.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích đối với toàn bộ 14 cán bộ nhân viên công ty (đạt tỷ lệ khảo sát 100% nhân sự nội bộ) để phân tích cơ cấu tổ chức và năng suất lao động; đồng thời khảo sát dữ liệu vận hành từ toàn bộ 10.893 lượt khách trong năm 2008 (với 3.972 lượt khách tập trung trong mùa lễ hội) cùng 24 tuyến điểm tour lễ hội tiêu biểu. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm bảo đảm tính chính xác tuyệt đối, loại trừ sai số ngẫu nhiên khi phân tích các chỉ số tài chính của một doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp giữa phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tương đối - tuyệt đối theo chuỗi thời gian 3 năm liên tục và phương pháp phân tích tỷ số tài chính. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu doanh thu - chi phí mùa vụ, làm rõ mối tương quan giữa quy mô lượt khách và biên độ lợi nhuận ròng. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý và kiểm định dữ liệu được tiến hành trong vòng 12 tháng, bảo đảm tính cập nhật và độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006 - 2008 của Công ty Du lịch Long Huy cho thấy bốn phát hiện cốt lõi:

  • Quy mô doanh thu và lượng khách tăng trưởng vượt bậc: Tổng doanh thu toàn công ty năm 2006 đạt 3,766 tỷ đồng, năm 2007 đạt 3,806 tỷ đồng và năm 2008 tăng đột biến lên 6,382 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng 67,6% so với năm 2007. Trong đó, doanh thu mùa lễ hội năm 2008 đạt 2,369 tỷ đồng, tăng 90,6% so với năm 2007 (1,242 tỷ đồng) và gấp 2,21 lần so với năm 2006 (1,068 tỷ đồng). Tỷ trọng doanh thu mùa lễ hội trong tổng doanh thu tăng đều từ 28,4% (2006) lên 32,6% (2007) và đạt 37,2% (2008). Tổng lượt khách phục vụ năm 2008 đạt 10.893 lượt (tăng 129,5% so với năm 2007), trong đó khách mùa lễ hội đạt 3.972 lượt, chiếm 36,5% tổng lượng khách cả năm.

  • Chi phí tăng tương ứng làm bào mòn biên độ lợi nhuận: Tổng chi phí hoạt động năm 2008 tăng lên 6,105 tỷ đồng (tăng 68,3% so với năm 2007). Chi phí phát sinh riêng trong mùa lễ hội năm 2008 chiếm 2,066 tỷ đồng (chiếm 32,7% tổng chi phí năm). Lợi nhuận trước thuế mùa lễ hội năm 2008 đạt 122,65 triệu đồng (tăng 74,4% so với năm 2007), song tỷ suất lợi nhuận trên chi phí mùa lễ hội chỉ đạt 5,9% (giảm so với mức 6,0% của năm 2007), phản ánh tình trạng giá vốn hàng bán và chi phí dịch vụ tăng quá nhanh.

  • Áp lực quá tải nhân sự và điểm nghẽn hướng dẫn viên: Công ty duy trì quy mô 14 nhân sự vào năm 2008 (giảm 2 người so với năm 2007). Năng suất lao động bình quân cả năm đạt 455,86 triệu đồng doanh thu/người và năng suất riêng mùa lễ hội đạt 169,25 triệu đồng doanh thu/người. Tuy nhiên, phòng hướng dẫn chỉ có 4 nhân viên chính thức (chiếm 29% nhân sự), phụ trách bình quân mỗi người từ 1 đến 2 tour/tuần với quy mô đoàn từ 30 đến 40 khách. Tình trạng thiếu hụt buộc doanh nghiệp phải thuê ngoài cộng tác viên với mức thù lao trung bình 200.000 đồng/ngày tour, tiềm ẩn rủi ro giảm sút chất lượng phục vụ.

  • Định giá cao và ngân sách tiếp thị còn hạn chế: Bảng giá 24 chương trình du xuân năm 2009 cho thấy một số tour bị định giá cao hơn đối thủ cạnh tranh khoảng 8,2% (ví dụ: tour Bái Đính - Tràng An của công ty giá 660.000 đồng/khách trong khi mặt bằng thị trường là 610.000 đồng/khách), dẫn đến mất thị phần tại phân khúc khách trường học và cơ quan ngoại thành Hải Phòng. Ngân sách quảng cáo trong 4 tháng đầu năm 2008 chỉ vỏn vẹn 17,71 triệu đồng, chỉ chiếm 0,71% tổng doanh thu mùa lễ hội (phân bổ cho tập gấp 5,21 triệu, sách giới thiệu 3,08 triệu và nâng cấp website 5,08 triệu đồng).

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn trực quan hóa qua biểu đồ cột kép so sánh tăng trưởng doanh thu - chi phí và biểu đồ tròn phân bổ chi phí xúc tiến, bức tranh kinh doanh của công ty bộc lộ rõ tính chất thâm dụng chi phí đầu vào. Giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng áp đảo tới 84,9% tổng chi phí năm 2008 (tương đương 5,183 tỷ đồng), trong khi chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm 13,9% (847,22 triệu đồng) và chi phí lãi vay chiếm 1,2% (74,09 triệu đồng).

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng lợi nhuận biên chưa cao xuất phát từ việc công ty chưa thiết lập được hợp đồng nguyên tắc dài hạn với hệ thống nhà xe, nhà hàng và cơ sở lưu trú tại các điểm nóng lễ hội như Ninh Bình, Quảng Ninh hay Nam Định. Trong mùa cao điểm, các nhà cung ứng tăng giá đột biến buộc công ty phải gánh chịu chi phí phát sinh để giữ chữ tín. So sánh với các nghiên cứu cùng ngành lữ hành tại thị trường miền Bắc, Công ty Long Huy có thế mạnh vượt trội về mảng đón khách quốc tế (khách inbound năm 2008 đạt 6.539 lượt, tăng 152,4%) và các tour hội thảo chuyên nghiệp, nhưng công tác quản trị rủi ro chi phí trong các tour hành hương nội địa vẫn còn mang tính chất ứng phó theo vụ việc.

Điều này chỉ ra rằng, việc gia tăng quy mô khách hàng chỉ thực sự mang lại giá trị bền vững khi đi kèm với năng lực đàm phán chuỗi cung ứng, kiểm soát chi phí định mức và chuẩn hóa đội ngũ nhân sự cơ hữu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh mùa du lịch lễ hội giai đoạn 2009 - 2010, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất:

  • Kiện toàn và chuẩn hóa nguồn nhân lực lữ hành: Ban Giám đốc và Phòng Điều hành cần tiến hành tuyển dụng thêm 3 hướng dẫn viên cơ hữu để nâng quy mô phòng hướng dẫn lên 7 người, chấm dứt tình trạng phụ thuộc vào cộng tác viên thời vụ. Triển khai ngay các khóa đào tạo nghiệp vụ thuyết minh tâm linh và bồi dưỡng ngoại ngữ tiếng Nhật chuyên sâu cho 100% nhân viên nhằm phục vụ các đoàn khách doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Nomura. Thời gian thực hiện: Hoàn thành trong Quý 4/2009; Mục tiêu: Nâng mức lợi nhuận bình quân trên mỗi lao động trong mùa lễ hội từ 8,76 triệu đồng lên trên 12,5 triệu đồng.

  • Cải tiến chính sách sản phẩm và tái cấu trúc biểu giá: Phòng Marketing kết hợp Phòng Điều hành tiến hành thiết kế mới 5 chương trình tour chuyên đề kết hợp văn hóa - sinh thái (như tuyến Chùa Bái Đính - Tràng An - Quần thể Cố đô Hoa Lư). Điều chỉnh linh hoạt giá bán tour bằng cách phân nhóm quy mô đoàn rõ rệt (đoàn trên 35 khách giảm 6% đến 8% giá tour), hạ mức giá tour Bái Đính - Tràng An từ 660.000 đồng xuống 620.000 đồng/khách để cạnh tranh trực tiếp với các đơn vị cùng ngành tại Hải Phòng. Thời gian thực hiện: Tháng 11/2009 trước mùa mở bán tour Tết.

  • Xây dựng liên minh đối tác và siết chặt định mức chi phí: Bộ phận Dịch vụ và Kế toán chủ động đàm phán, ký kết hợp đồng liên kết chiến lược trước 3 tháng với các hãng xe vận tải du lịch và chuỗi nhà hàng tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình. Đạt mục tiêu cam kết giữ nguyên mức giá cố định hoặc chiết khấu 10% đến 15% trong mùa cao điểm. Cắt giảm các khoản chi phí tiếp khách, quản lý hành chính không cần thiết nhằm kéo giảm tỷ trọng chi phí quản lý từ 13,9% xuống dưới 11% tổng doanh thu. Thời gian thực hiện: Định kỳ tháng 10 hàng năm.

  • Đột phá hoạt động tiếp thị số và mở rộng thị trường: Phòng Marketing cần nâng ngân sách xúc tiến từ mức 0,71% lên 2,5% doanh thu mùa lễ hội (tương đương khoảng 60 triệu đồng). Triển khai chiến dịch truyền thông đa kênh: nâng cấp hệ thống đặt tour trực tuyến trên website, phát hành 10.000 tập gấp giới thiệu tour xuân đến các khu công nghiệp, trường học tại Thủy Nguyên, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Thời gian thực hiện: Từ tháng 12/2009 đến hết tháng 3/2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Ban lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp lữ hành vừa và nhỏ (SMEs): Nghiên cứu cung cấp khung tham chiếu thực chứng để đánh giá sức khỏe tài chính, phân bổ ngân sách chi phí mùa vụ và xây dựng chiến lược định giá linh hoạt cho các dòng tour du lịch đoàn khối doanh nghiệp, trường học.
  • Chuyên viên điều hành và thiết kế sản phẩm du lịch: Cung cấp kho tư liệu chi tiết về phương pháp xây dựng lộ trình 24 tour du xuân kết hợp lễ hội - danh thắng miền Bắc, cùng các biểu mẫu quản lý hợp đồng vận chuyển, lưu trú, ăn uống nhằm hạn chế tối đa rủi ro dịch vụ trong mùa cao điểm.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch - Khách sạn: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng trong kinh tế du lịch, hệ thống hóa các công thức tính tỷ suất sinh lời, năng suất lao động và phân tích chuỗi số liệu tài chính doanh nghiệp 3 năm liên tiếp.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và Hiệp hội Du lịch địa phương: Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách tại Hải Phòng xây dựng quy hoạch tour tuyến liên vùng, ban hành cơ chế bình ổn giá dịch vụ điểm đến và hỗ trợ doanh nghiệp lữ hành địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tính mùa vụ lại là rào cản lớn nhất đối với hiệu quả kinh doanh lữ hành? Tính mùa vụ tạo ra sự mất cân đối cung - cầu nghiêm trọng trong năm. Vào mùa cao điểm lễ hội đầu năm, lượng khách tăng vọt 172% khiến các dịch vụ xe và phòng nghỉ bị quá tải, giá đầu vào tăng cao. Ngược lại, vào mùa thấp điểm, nhân lực và phương tiện bị dư thừa, doanh nghiệp vẫn phải chi trả chi phí cố định dẫn đến sụt giảm tỷ suất sinh lời.

Tỷ trọng doanh thu mùa du lịch lễ hội của Công ty Long Huy đóng vai trò như thế nào? Doanh thu mùa lễ hội là trụ cột tài chính then chốt của công ty, tăng trưởng liên tục từ 1,068 tỷ đồng (2006) lên 2,369 tỷ đồng (2008). Nguồn thu này chiếm tới 37,2% tổng doanh thu toàn năm và đóng góp 122,65 triệu đồng lợi nhuận ròng, khẳng định vị thế sống còn đối với dòng tiền và chỉ tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

Điểm hạn chế lớn nhất trong quản trị nhân sự mùa cao điểm tại Công ty Long Huy là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là công ty chỉ có 4 hướng dẫn viên chính thức trên tổng số 14 nhân sự, khiến mỗi người phải phụ trách 1 đến 2 tour/tuần cho các đoàn từ 30 đến 40 khách. Việc phải thuê cộng tác viên ngoài với chi phí 200.000 đồng/ngày tiềm ẩn rủi ro thiếu trách nhiệm, ảnh hưởng đến uy tín chất lượng dịch vụ của công ty.

Mức chi phí quảng cáo 0,71% doanh thu mùa lễ hội bộc lộ những bất cập gì? Ngân sách 17,71 triệu đồng (chiếm 0,71% doanh thu lễ hội) là quá thấp so với tốc độ tăng trưởng của thị trường. Hậu quả là chỉ có từ 2 đến 5 đoàn khách mới đăng ký qua kênh quảng cáo, còn lại 80% vẫn phụ thuộc vào khách hàng cũ, khiến doanh nghiệp bỏ lỡ phân khúc khách hàng tiềm năng tại các vùng phụ cận.

Doanh nghiệp lữ hành có thể kiểm soát giá dịch vụ đầu vào mùa lễ hội bằng cách nào? Doanh nghiệp cần chuyển từ hình thức mua dịch vụ theo chuyến sang ký hợp đồng nguyên tắc chiến lược dài hạn trước mùa vụ từ 2 đến 3 tháng. Việc cam kết số lượng phòng và lượt xe ổn định giúp doanh nghiệp nhận mức chiết khấu từ 10% đến 15%, đồng thời cố định giá đầu vào, ngăn chặn tình trạng ép giá khi điểm đến quá tải.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã chứng minh vai trò then chốt của mùa du lịch lễ hội, đóng góp tới 37,2% tổng doanh thu (đạt 2,369 tỷ đồng) và 36,5% lượng khách (3.972 lượt) trong kết quả kinh doanh năm 2008 của Công ty Du lịch Long Huy.
  • Chỉ ra chính xác nguyên nhân khiến tỷ suất lợi nhuận trên chi phí mùa lễ hội chỉ đạt 5,9% là do giá vốn hàng bán chiếm tới 84,9% tổng chi phí và thiếu hụt các hợp đồng cam kết giá dịch vụ đầu vào dài hạn.
  • Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn nhân lực trẻ với 85,7% trình độ đại học, năng suất lao động đạt 455,86 triệu đồng/người/năm, đồng thời nhận diện rõ rủi ro thiếu hụt đội ngũ hướng dẫn viên cơ hữu trong các tour cao điểm.
  • Xây dựng thành công hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao về tuyển dụng nhân sự, tái cấu trúc biểu giá tour linh hoạt, liên minh chuỗi cung ứng và nâng tỷ trọng ngân sách marketing lên 2,5%.
  • Đóng góp mô hình quản trị hiệu quả kinh doanh lữ hành mùa vụ có giá trị thực tiễn cao, có thể chuyển giao và áp dụng rộng rãi cho các doanh nghiệp du lịch tại thành phố Hải Phòng và vùng duyên hải Bắc Bộ.

Lộ trình triển khai các giải pháp được khuyến nghị tiến hành ngay từ Quý 4/2009 đến hết Quý 2/2010 để chuẩn bị đón đầu mùa du lịch lễ hội mới. Các nhà quản trị doanh nghiệp và bạn đọc quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các phương pháp phân tích chỉ tiêu tài chính, mô hình định giá và quy trình điều hành tour trong luận văn này nhằm tối ưu hóa chi phí và bứt phá doanh thu trong mọi mùa cao điểm kinh doanh lữ hành.