Chương 1: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về bảo hiểm xã hội và công tác thu bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chương 2: Phân tích thực trạng công tác thu Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hạ Long giai đoạn 2010-2014. Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thu bắt buộc đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại BHXH thành phố Hạ Long. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.
Tổng quan lý thuyết về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, vai trò của bảo hiểm xã hội a/ Khái niệm về Bảo hiểm xã hội Hiện nay, khái niệm chung về BHXH ở bình diện quốc tế vẫn chưa được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng vì quan niệm về vấn đề này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố liên quan đến nhận thức, tập quán lựa chọn, khả năng quản lý… của từng quốc gia. Chính vì vậy, khái niệm chung của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về an sinh xã hội trong công ước 102 (Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội) cũng được sử dụng trong lĩnh vực BHXH. Theo đó, BHXH có thể hiểu một cách khái quát “là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già hoặc chết cũng như nhằm đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Thông qua hệ thống các chế độ trợ cấp, BHXH bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện, những “rủi ro” mang tính xã hội làm cho người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Khoản thu nhập thay thế này tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của quỹ BHXH có thể bằng toàn bộ hoặc một phần thu nhập đã mất. Ở Việt Nam, khái niệm về BHXH được hiểu như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội; 7 Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Từ các giác độ khác, cũng có thể có những khái niệm khác nhau về BHXH.
Ví dụ: - Từ giác độ pháp luật: “BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, người lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết”. - Từ giác độ tài chính: “BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật”. - Từ giác độ chính sách xã hội: “BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. b/ Vai trò của bảo hiểm xã hội Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
Mục tiêu này đã được Tổ chức lao động thế giới (ILO) cụ thể hoá như sau: - Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ; - Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật; - Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em. Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất trong hệ thống chính sách An sinh xã hội. Vai trò của BHXH đối với An sinh xã hội biểu hiện như sau: - Thứ nhất, BHXH là hoạt động cần thiết của xã hội nhằm thu hút, bảo vệ và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội. 8 Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho bản thân mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông người lao động khác.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia BHXH để bảo hiểm cho người lao động mà mình đang sử dụng và cũng vì lợi ích của chính người sử dụng lao động để giảm thiểu tác động không mong muốn khi phát sinh các rủi ro hoặc các sự kiện BHXH của người lao động, đặc biệt là trong trường hợp các rủi ro, sự kiện BHXH này có quy mô đáng kể. Nhà nước tham gia BHXH với tư cách thứ nhất là người sử dụng công chức và những người hưởng lương từ ngân sách, tư cách thứ hai là người bảo hộ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết, ở đây Nhà nước là chủ thể quản lý và hoạch định chế độ, chính sách BHXH, định hướng cho các hoạt động BHXH, bảo đảm cho quỹ BHXH cân đối được khả năng chi trả cũng như bảo đảm giá trị của các khoản tiền. Hơn nữa, mục tiêu của BHXH là bảo đảm trực tiếp cho yếu tố lao động trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, do đó hoạt động BHXH được Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện nhằm mục đích An sinh xã hội. Chính sách BHXH đã tạo nên sự an tâm của người lao động, có tác dụng thu hút nguồn lao động, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động trong xã hội.
Vai trò bảo vệ người lao động trong sự phát triển xã hội đã quy định vai trò trụ cột của BHXH trong hệ thống An sinh xã hội. - Thứ hai, thông qua hệ thống các chế độ trợ cấp, BHXH trợ giúp cuộc sống người lao động ổn định khi gặp các “rủi ro xã hội”, giúp họ sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm, nâng cao chất lượng lao động, góp phần ổn định xã hội. Người lao động tham gia BHXH và gia đình họ sẽ nhận được các khoản trợ cấp khi gặp các “rủi ro xã hội” làm giảm hoặc mất thu nhập như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp hoặc chết; khi già yếu hết tuổi lao động họ sẽ được hưởng lương hưu để an tâm tuổi già, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế, quyền lợi của các chế độ BHXH không ngừng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện sống chung của toàn xã hội tại từng thời điểm, đảm bảo cuộc sống của người tham gia BHXH, giúp cho người lao 9 động sớm ổn định sức khoẻ, sớm có việc làm, tạo ra thu nhập cho bản thân và xã hội.
Việc tham gia BHXH của người lao động còn thể hiện trách nhiệm của bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH để bảo hiểm cho chính mình và người khác trên cơ sở “san sẻ rủi ro” trong phạm vi toàn xã hội, đồng thời việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH. Chính sự phát triển nhanh của nền kinh tế và của thế hệ đương thời đã góp phần cải thiện rõ rệt mức sống của người về hưu, ổn định xã hội. - Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển. Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc "đóng – hưởng" đã tạo ra sự bình đẳng cho người lao động trong việc thụ hưởng các chính sách xã hội.
Theo đó, mọi người lao động làm việc ở các lĩnh vực trong mọi thành phần kinh tế đều được tham gia và thụ hưởng BHXH. Phạm vi đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng đã thu hút được hàng triệu người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, các quyền lợi BHXH được hưởng đã khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ khi tham gia BHXH. - Thứ tư, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm An sinh xã hội bền vững. BHXH được thực hiện theo nguyên tắc đóng – hưởng, có nghĩa là người nào tham gia đóng góp vào quỹ BHXH thì người đó mới được hưởng quyền lợi BHXH.
Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do người lao động đóng góp, Nhà nước không phải dùng ngân sách nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu An sinh xã hội lâu dài. Trên thị trường lao động, tiền lương (hay thu nhập) là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng người lao động. Thông qua chính sách thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện việc điều tiết phân phối lại thu nhập lần thức nhất, và lần thứ hai thông qua chính sách BHXH. Tức là, trong xã hội, người nào có năng lực hơn sẽ nhận được thu nhập cao hơn, và sẽ đóng góp nhiều hơn qua chính sách thuế thu nhập và chính sách BHXH để trợ giúp những người "yếu thế" hơn; một bộ phận 10 lao động khác do gặp phải rủi ro “xã hội” làm suy giảm về sức khỏe, về khả năng lao động hoặc có việc làm không ổn định sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống.
Đây là một hình thức phân phối tích cực bởi quyền lợi phân phối lại căn cứ vào kết quả đóng góp theo thu nhập từ lao động trước đó một cách hợp lý, hạn chế tình trạng ỷ lại, lười lao động và chỉ mong chờ vào trợ cấp xã hội.