Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về công tác thanh tra, kiểm tra Dự án ĐTXDCB. Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra dự án ĐTXDCB tại Sóc Trăng. Chương 3: Các Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, dự án đầu tư xây dựng cơ bản tr n địa bàn tỉnh. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.1 Tổng quan về dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm và phân loại dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.1 Các khái niệm Khái niệm đầu tư: Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Như vậy, mục ti u của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Cho đến nay, có nhiều định nghĩa về đầu tư, tuỳ thuộc vào quan điểm và mục đ ch nghi n cứu. Theo quan điểm kinh tế: Đầu tư là sự bỏ ra một lượng vốn để tạo ra một tài sản dưới một hình thức nào đó nhằm khai thác và sử dụng nó, để tài sản này có khả năng sinh lời hay thoả mãn một nhu cầu nhất định nào đó của người bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định trong tương lai. Nói cách khác, theo quan điểm này thì: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để tạo ra một tài sản để tài sản này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau để đạt được mục đ ch của người bỏ vốn.
Theo quan điểm tài chính: Đầu tư là làm bất động một số vốn, để sau đó rút ra với một khoản tiền lãi ở thời kỳ tiếp theo. Nói một cách chi tiết hơn, đó là một chuỗi hành động chi tiền của chủ đầu tư, từ đó, chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi tiền tệ để đảm bảo hoàn trả vốn và trang trải mọi chi ph có li n quan và có lãi. Theo quan điểm kế toán: Đầu tư là gắn liền với một số khoản chi vào động sản hoặc bất động sản để tạo n n các khoản thu lớn hơn. Như vậy dù theo quan điểm nào đi nữa, thì chúng vẫn có những cái chung, đó là: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định để đạt được mục đ ch của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư.
Vốn ở đây chúng ta có thể hiểu rằng 8 đó là tiền hoặc tài sản hoặc thời gian lao động, còn mục đ ch của chủ đầu tư là mang lại lợi ch thông qua hoạt động đầu tư. Lợi ch có thể t nh bằng tiền hoặc không thể t nh được bằng tiền. T nh sinh lời là đặc trưng của đầu tư. Từ nhận xét tr n, chúng ta có thể đi đến kết luận: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để đạt được tài sản, mục đích sinh lợi của Chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư.
Khái niệm d án: Theo đại bách khoa toàn thư, từ “ roject – Dự án” được hiểu là “điều có ý định làm” hay “đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”. Như vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu và có ý năng động, chuyển động hành động. Ch nh vì lẽ đó mà có khá nhiều khái niệm về thuật ngữ này, cụ thể: Dự án là việc thực hiện một mục đ ch hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về y u cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục ti u nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn.
Dự án là một tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục ti u hay y u cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa tr n nguồn vốn xác định. Dự án là một quá trình mang đặc thù ri ng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi ph và nguồn lực nhằm đạt được mục ti u phù hợp với những y u cầu cụ thể. Dự án là đối tượng của quản lý và là một nhiệm vụ mang t nh chất một lần, có mục ti u r ràng trong đó bao gồm chức năng, số lượng, ti u chuẩn chất lượng y u cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài ch nh từ trước và nói chung không được vượt qua dự toán đó. Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện nghi n cứu quản lý dự án quốc tế I thì “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ duy nhất”.
Theo định nghĩa này thì dự án có hai đặc t nh: 9 Tạm thời hay có thời hạn : Nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục ti u dự án đã đạt được hoặc khi xác định được r ràng là mục ti u không thể đạt được và dự án bị chấm dứt. Trong mọi trường hợp, độ dài của dự án là xác định, dự án không phải là sự cố gắng li n tục, tiếp diễn. Duy nhất: Nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất đó khác biệt so với những sản phẩm đã có hoặc dịch vụ khác.
Dự án li n quan đến việc gì đó chưa từng làm trước đây và do vậy là duy nhất. Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về ti u chuẩn hoá IS , trong ti u chuẩn IS 9000:2000 và theo ti u chuẩn Việt Nam TCVN IS 9000:2000 thì dự án được định nghĩa như sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục ti u phù hợp với các y u cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi ph và nguồn lực. Nói một cách chung nhất, có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp ri ng, nguồn lực ri ng và theo một kế hoạch tiến độ xác định. Khái niệm d án đầu tư: Dự án đầu tư là một tập hợp đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư tr n địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi ph theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục ti u nhất định trong tương lai. Tr n góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài ch nh, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Tr n góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. 10 Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có li n quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục ti u đã kh ng định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Khái niệm đầu tư xây d ng cơ bản: Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đây ch nh là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói ri ng.
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ch với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định. Tóm lại: Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là việc phân bổ các nguồn vốn trung, dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư vào tài sản cố định cho nền kinh tế bằng các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa, khôi phục, nâng cấp như việc đầu tư vào các công trình bệnh viện, trường học, đường giao thông, k nh thủy lợi.
nhằm mong muốn đạt được những kết quả nhất định.2 Phân loại dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản Tr n thực tế có nhiều cách phân loại nhằm hình thành các nhóm dự án có một số t nh chất tương đồng như: phân loại theo quy mô, t nh chất, loại hình đầu tư, nguồn vốn, chủ sở hữu, loại công trình, thời hạn Tuy nhi n, theo điều 35 của Luật 11 Xây dựng số 16/2003/ H11 thì “Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, t nh chất và nguồn vốn đầu tư.