CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XẴ HỘI KHƯ Vực PHI CHÍNH THỨC 1.1 Một số khái niệm chung 1.1 Khái niệm khu vực phi chính thức Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm quốc tế và tham khảo kinh nghiệm của các Chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Thống kê Pháp, Tổng cục Thống kê đã ban hành Công văn số 1127/TCTK-TKQG ngày 13/9/2019 về hướng dẫn sử dụng khái niệm khu vực phi chính thức và hoạt động tự sản, tự tiêu của hộ gia đình. Theo đó, định nghĩa khu vực phi chính thức là: “Khu vực phi chính thức bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất ra sản phẩm (vật chất, dịch vụ) để bán, trao đổi và không phải đăng ký kinh doanh”.2 Đặc điểm lao động khu vực phi chính thức Một là, trong khu vực này có điều kiện bấp bênh như: quyền lợi về các chệ độ BHXH, lợi nhuận, ngày lễ, phép không được trả công. Hai là, trong khu vực này làm việc có thu nhập ít và điều kiện làm việc khó khăn và thiếu chuyên nghiệp. Ba là, người lao đông trong khu vục này không được đào tạo chuyên môn, tay nghề thời gian lao động trong ngày dài dà và trả công thấp.3 Tỉnh hình lao động ở khu vực kinh te phi chính thức Ở Việt Nam, số liệu thống kê về quy mô của khu vực kinh tế phi chính thức còn khác nhau và chưa thống nhất về những đóng góp của khu vực này.
Báo cáo của một số tổ chức kinh tế và tài chính quốc tế cũng cho thấy, Việt Nam có khu vực kinh tế phi chính thức rất lớn, nếu tính được giá trị của toàn bộ khu vực này có thể làm cho GDP tăng thêm khoảng 30%. Tổng cục Thống kê (Bộ Ke hoạch và Đầu tư) cũng dự tính, quy mô khu vực kinh tế phi chính thức ở khoảng 30% GDP. 5 Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV/2020 và năm 2020 của Bộ Ke hoạch và Đầu tư, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản quý 1/2020 là 55,3% và quý 11/2020 là 55,8%; quý 111/2020 là 57% và quý IV/2020 ước tính là 56,2%. Tính chung năm 2020, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 56,2%.
Tỷ lệ này tính riêng trong khu vực thành thị năm 2020 là 48,3% và trong khu vực nông thôn là 62,6% (năm 2019 tưong ứng là 56%; 47,8%; 62,5%). Nhìn chung, hệ thống pháp luật quy định về BHXH tự nguyện đã được xây dựng một cách đầy đủ và chi tiết tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc tổ chức triển khai thực hiện. Trong những năm qua, nhiều nội dung chính sách được bổ sung, sửa đổi (đặc biệt là đối với BHXH tự nguyện) đã tạo cơ hội thuận lợi cho người lao động trong khu vực chính thức và phi chính thức tham gia BHXH. Nhờ đó, số người tham gia BHXH tự nguyện (trong đó có người lao động trong khu vực phi chính thức) không ngừng tăng lên qua các năm, từ trên 6 nghìn người tham gia năm 2008 đến hết tháng 4/2021, số người tham gia BHXH tự nguyện đạt 1,12 triệu người, tăng 527.000 người so với cùng kỳ năm 2020.4 Bảo hiếm xã hội tự nguyên Luật BHXH sửa đổi số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 tại các Khoản 1, 2, 3, Điều 3 quy định như sau: BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập.2 Chính sách pháp luật về BHXH tự nguyện đối vói lao động khu vực phi chính thức ỉ.1 Vai trò của BHXH tự nguyện đoi vói lao động khu vực phi chính thức Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động khu vực phi chính thức đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội như: 1) BHXH tự nguyện đảm bảo công bằng xã hội giữa những NLĐ, bao gồm lao động khu vực chính thức và phi chính thức; 2)BHXH tự nguyện góp phần ổn định nguồn thu nhập và liên tục cho NLĐ khi họ gặp rủi ro; 3) BHXH tự nguyện được xem là một trong những nguồn tiền tiết 6 kiệm cho NLĐ để họ có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động; 4) Khu vực phi chính thức khi NLĐ tham gia BHXH tự nguyện sẽ giúp hoàn thiện chính sách BHXH quốc gia, đảm bảo chính sách an sinh xã hội; 5) Nâng cao số lượng người tham gia, gia tăng bao phủ BHXH tự nguyện giúp giảm bớt ngân sách nhà nước chi trả cho những người không có thu nhập khi hết tuổi lao động.2 Chính sách pháp luật ve BHXH tự nguyện đoi với lao động khu vực phi chính thức Ở Việt Nam, BHXH tự nguyện được đưa vào thực hiện cho lao động được thể hiện trong Luật BHXH năm 2006, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2008.
Luật BHXH năm 2014 quy định rất chi tiết về một số nội dung như: 1) Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; 2) Mức đóng và hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện; 3) Phưong thức đóng BHXH tự nguyện; 4) Chế độ BXH tự nguyện (hưu trí, thời điểm hưởng lương hưu, chế độ tử tuất.3 Các lý thuyết áp dụng vào nghiên cứu 1.1 Thuyết hành động hợp lỷ (TRA) Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được xây dựng bởi Fishbein & Ajzen. Mô hình TRA nghiên cứu việc dự đoán và giải thích hành vi người tiêu dùng tốt nhất (Ajzen,1991). TRA cho thấy ý định là dự đoán tốt nhất của hành vi thật sự và ý định bị ảnh hưởng bởi thái độ và các quy chuẩn chủ quan.Từ đó thái độ kết hợp với chuẩn chủ quan hướng tới hành vi, điều này sẽ ảnh hưởng đến xu hướng hành vi mua, đây là yếu tố để tạo ra hành vi thực sự của người tiêu dùng.1 Mô hình hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Ajzen và Fishbein (ỉ975) 1.2 Mồ hình hành vi dự định (TPB - Theory ofplanned behaviour) Theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991), động cơ hay ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và sự kiểm soát cảm nhận đối vói hành vi. Nghiên cứu của Olsen (2001) đề nghị rằng sự quan tâm là biến động cơ quan trọng có thể thay thế cho ý định hành vi.
Nhằm gia tăng sức giải thích của mô hình TPB, một so nhà nghiên cứu đã bổ sung các biến mở rộng như trách nhiệm đạo lý (Olsen, 2001), các điều, kiện thị trường (Verbeke và Vackier, 2005), các cảm nhận hành vi xã hội (Tuu và cộng sự, 2008), rủi ro cảm nhận (Lobb và cộng sự, 2007), kiến thức người tiêu dùng, thu nhập, tuổi (Rhodes và cộng sự, 2006), ý thức sức khỏe (Olsen, 2004).2 Mô hình hành vi dự tính (TPB) Nguồn: Ajzen (ỉ 99ỉ) 1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Castel (2008) Kết quả nghiên cứu: Bài viết của Castel (2005) “Sự sẵn sàng tham gia vào hệ thống hưu trí tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức ỏ Việt Nam”. Nhân tố quyết định đến sự sẵn sàng tham gia vào hệ thống hưu trí tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam bao gồm: Kiến thức về BHXH tự nguyện, thu nhập, khả năng tiết kiệm, nơi cư trú. Trong đó nhân tố cơ chế chính sách tác động mạnh đến sự sẵn sàng tham gia như phương thức đóng, quyền lợi được hưởng.3 Mô hình nghiên cứu của Castel Nguồn: Castel (2005) Nghiên cứu Urean (2016) Kết quả nghiên cứu: Tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới tính, học vấn) và các yếu tố xã hội khác đến sự tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ tại Romania”. Tác giả đã tiến hành 1579 người đại diện theo các nhóm tuổi, khu vực và thu nhập.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng môi trường cư trú, thu nhập, khu vực phát triển đã tác động nhất định tới việc tham gia bảo hiểm lưong hưu tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ tại Romania.4 Mô hình nghiên cứu của Urean Nguồn: Urean (20ỉ 6) 10 Nghiên cứu Amlan và Shrutikeerti (2016) Kết quả nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu luận văn với nôi dung “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí tại các khu vực ngoài đô thị ở Ân Độ”. Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát 400 người dân tại địa phương là quận Burdwan ở phía Tây Ân Độ. Thông qua các kỹ thuật phân tích (phân tích nhân tố, và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính), tác giả đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng như: thu nhập, sự quan tằm đến tương lai, tư vấn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro.5 Mô hình nghiên cứu Amlan và Shrutikeerti Nguồn: Amỉan và Shrutikeerti (2016) 1.2 Các nghiên cứu tại dệt Nam Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hà và Lê Long Hồ (2020) Kết quả nghiên cứu: Các tác giả thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH của NLĐ khu vực phi chính thức tại tỉnh Kiên Giang”. Hai tác giả thực hiện khảo sát 342 người lao đông (166 nam và 176 nữ).
Qua kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu kiểm định đánh giá, phân tích EFA và hồi quy tuyến tính, nhóm tác giả đã chỉ ra 10 nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện tại Việt Nam bao gồm: Thu nhập, cảm nhân rủi ro, ảnh hưởng xã hội, ý thức sức khỏe, công tác tuyên truyền, kiểm soát hành vi, trách nhiệm, hiểu biết, thái độ, kỳ vọng. Trong đó thành phần đạo lý và truyền thông là thành phần tác động mạnh mẽ nhất lên quyết định tham gia BHXH tự nguyên của người lao động ở khu vực phi chính thức.6 Mô hình nghiên cứu Nguyễn Hồng Hà và Lê Long Hồ Nguồn: Nguyễn Hồng Hà và Lê Long Ho (2020) Nghiên cứu của Hồ Phương (2020) Kết quả nghiên cứu: Tác giả đã nghiên cứu đề tài “Giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức trên địa bàn tỉnh Phú Yên”. Tác giả đã tiến hành khảo sát 400 người lao động. Sau khi thu thập dữ liệu tiến hành phân tích dữ liệu (kiểm định, phân tích EFA, phân tích hồi quy tuyến tính), tác giả đã chỉ ra trên địa bàn Tỉnh Phú Yên các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển BHXH tự nguyện sau: An sinh xã hội; Bảo hộ tham gia BHXH tự nguyện; Thái độ tham gia BHXH tự nguyện; Hiểu biết về BHXH tự nguyện; Thu nhập của người lao động; Thông tin và tuyên truyền.