CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế 1.1 Tính tất yếu khách quan của Tài trợ thương mại quốc tế Hoạt động trao đổi mua bán giữa các diễn ra ngày càng mạnh mẽ và từ đó khái niệm Thương mại quốc tế ra đời. Dựa trên khái niệm Thương mại tại Điều 3 trong Luật thương mại Việt Nam 2005, thương mại quốc tế được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác giữa người bán và người mua ở các quốc gia khác nhau. Thương mại quốc tế ngày càng phát triển với quy mô lớn và tốc độ nhanh chóng lôi cuốn tất cả các quốc gia tham gia, đặc biệt là các nước thuộc nhóm công nghiệp phát triển từ đó hình thành nên các trung tâm thương mại của thế giới như Hiệp hội mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA, Liên minh Châu Âu EU, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Những lợi ích mà xu hướng thương mại quốc tế đem đến cho mỗi chủ thể tham gia là vô cùng to lớn, nhận thức được những lợi ích này, các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm Chính phủ, các định chế tài chính, các doanh nghiệp đã và đang đầu tư nhiều nỗ lực vào các biện pháp tài trợ thương mại quốc tế.
Đối với Chính phủ, thúc đẩy thuương mại quốc tế đã trở thành nhiệm vụ, luận điểm hay hình thành các chính sách thương mại quốc tế tại mỗi quốc gia. Các biện pháp để thực hiện chính sách thương mại quốc tế bao gồm các biện pháp để thúc đẩy thương mại quốc tế như kí kết các hiệp định thương mại quốc tế và các biện pháp hỗ trợ thương mại quốc tế trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu bao gồm: các chính sách tỉ giá hối đoái, các quy định trong quản lý ngoại tệ, tín dụng, bảo hiểm, các quỹ tài trợ ưu đãi, đầu tư. Đây chính là các biện pháp tài trợ thương mại quốc tế không thể thiếu từ phía chính phủ. Xét về phía doanh nghiệp, xu thế hội nhập đã thiết lập những thị trường mới bên cạnh thị trường truyền thống, thông qua đó các doanh nghiệp tham gia vào sân chơi quốc tế có được nhiều cơ hội.
Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế luôn đứng trước những thách thức lớn về nhu cầu vốn và khả năng thu hồi vốn. Vì vậy, các doanh nghiệp rất cần đến sự hỗ trợ của chính 5 phủ và các tổ chức tài chính. Về phía ngân hàng, việc thực hiện tài trợ thương mại quốc tế cũng đem lại lợi ích về thu nhập, do đó các ngân hàng luôn nỗ lực để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế. Có thể nói thương mại quốc tế là một xu hướng tất yếu, là tiền đề của Tài trợ thương mại quốc tế, từ đó tác giả muốn đưa người đọc tìm hiểu và khảo sát cơ chế dẫn tới tính khách quan trong Tài trợ thương mại quốc tế qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1-1: Quy trình tái sản xuất hàng xuất khẩu và nhu cầu tài trợ tài chính trong các giai đoạn Cho vay ngắn Cho vay trung Cho vay xuất và trung hạn và dài hạn khẩu T-H SX T’-H’ Tiền sản xuất Sản xuất Đưa sản phẩm ra thị trường Cho vay vốn lưu động chi Cho vay mua hàng xuất khẩu phí sản xuất Nguồn: Nguyễn Thị Quy (2012) Giáo trình tài trợ thương mại quốc tế 1.2 Khái niệm Tài trợ Thương mại Quốc tế Tài trợ thương mại quốc tế là một hiện tượng kinh tế khách quan, gồm tập hợp tổng thể các chính sách, biện pháp, hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay giám tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế trong một hoặc một số hay tất cả các công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới nhằm mục đích sinh lợi.
6 Tài trơ ̣ thương ma ̣i bao hàm sự chuẩ n bi ̣ sẵn sàng các phương tiện tài chính và thay thế về mặt tài chính (vay tín du ̣ng) để hoàn tấ t nghiã vu ̣ thanh toán và sản xuấ t trong quan hệ kinh tế đố i ngoa ̣i cũng như đảm bảo các quá trình thanh toán liên quan. Pha ̣m vi của tài trơ ̣ thương ma ̣i quố c tế bao gồ m tài trơ ̣ cho xuấ t khẩ u (cả trong giai đoa ̣n sản xuấ t) và tài trơ ̣ cho nhập khẩ u trong thời gian từ ngắ n ha ̣n đế n dài hạn. Trên thương trường quố c tế , sự vận động của hàng hoá và vố n luôn phát triể n nhip̣ nhàng với nhau, xuấ t phát từ việc quố c tế hoá nề n kinh tế và sự liên kế t với nhau giữa các đồ ng tiề n ma ̣nh. Trên thực tế, người ta thường hiểu tài trợ thương mại quốc tế là cho vay xuất khẩu, tín dụng trong ngoại thương, đó là cách hiểu đúng nhưng chưa đủ.
Ở góc độ rộng hơn, tài trợ thương mại quốc tế (international trade sponsorship) bao hàm ý nghĩa rộng hơn cả tín dụng (credit) và tài trợ tài chính (finacing) cộng lại. Bên cạnh những hoạt động này, đó còn là những hành động gián tiếp, những chính sách biện pháp trìu tượng đến từ doanh nghiệp, ngân hàng hay chính phủ. Như vậy, ta cũng có thể sử dụng một khái niệm cụ thể hơn được khái quát dựa trên phương thức tài trợ trực tiếp hay gián tiếp, tài trơ ̣ thương ma ̣i quố c tế là tập hơ ̣p các biện pháp và hình thức hỗ trơ ̣ về tài chính trực tiế p hay gián tiế p cho các doanh nghiệp và các đơn vi ̣ kinh tế tham gia trong liñ h vực thương ma ̣i quố c tế trong các công đoa ̣n của quá trình đầ u tư, sản xuấ t, tiêu thu ̣ sản phẩ m hoặc cung ứng dich ̣ vu ̣.3 Đặc điểm và vai trò của Tài trợ thương mại quốc tế 1.1 Đặc điểm của Tài trợ thương mại quốc tế Tài trợ thương mại quốc tế mang năm đặc điểm rõ rệt sau: Thứ nhất, Tài trợ thương mại quốc tế mang nội hàm rộng. Khái niệm bao hàm cả các hình thức tài trợ hữu hình và vô hình.
Về hữu hình, đó là các hoạt động cấp vốn (financing), cho vay (loan) hoặc tín dụng (credit) nhằm giúp doanh nghiệp bổ sung trực tiếp vào nhu cầu về nguồn tài chính của mình. Về vô hình, đó là việc sử dụng các chính sách, biện pháp kinh tế, hoặc các hình thức tài trợ vô hình khác nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho tài chính doanh nghiệp và tạo ra các cơ hội kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp khi tham gia thương mại quốc tế. Thứ hai, Tài trợ phi thương mại và Tài trợ thương mại là hai khái niệm cần được phân biệt rõ ràng. Tài trợ phi thương mại bao gồm các hoạt động tài trợ trợ tài chính 7 và phi tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị kinh tế trong nền kinh tế quốc dân mà người tài trợ không nhằm mục đích sinh lợi, còn Tài trợ thương mại là hoạt động tài trợ tài chính cho doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi.
Thứ ba, mục đích cuối cùng của hoạt động thương mại quốc tế là nhằm mục đích sinh lợi, tức là bao hàm cả lợi nhuận về tài chính hoặc các lợi ích phi tài chính khác. Lợi ích tài chính dễ dàng có thể nhận thấy hơn ở các hoạt động của các tổ chức tài chính tiêu biểu là ngân hàng hay doanh nghiệp, nhưng mục đích sinh lời thường khó nhận biết hơn, tuy nhiên lại sâu sắc và ảnh hưởng rộng lớn hơn vì thường là các chính sách và biện pháp của chính phủ. Có thể lấy ví dụ như, mục đích sinh lời là chính sách phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và sinh lợi nói chung là chính sách miễn giảm thuế xuất nhập khẩu của chính phủ. Thứ tư, tuỳ thuộc vào quy mô giá trị sản phẩm lớn hay bé và tính chất kinh doanh, hay yêu cầu tài trợ của doanh nghiệp mà việc tài trợ thương mại quốc tế có thể cho một, một số hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình sản xuất phục vụ thương mại quốc tế.
Thông thường, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu luôn thiếu hụt vốn và khao khát nhận được nguồn tài trợ thương mại trong cả quá trình sản xuất vì vậy điều họ cần chính là nguồn vốn lớn và dài hạn để đầu tư vào máy móc, nguyên vật liệu vì cho tới tận khi bán được hàng nguồn vốn mới được quay vòng, trong khi các doanh nghiệp tạm nhập tái xuất, gia công hoặc kinh doanh nhập khẩu thường chỉ yêu cầu tài trợ một công đoạn của quy trình, do vậy nguồn tài trợ tài chính họ yêu cầu thường ngắn hạn hơn, linh hoạt hơn. Cuối cùng, Tài trợ thương mại quốc tế là một loại hình kinh tế, cho nên điều tất yếu rằng sẽ luôn vận hành hai chiều: đó là nhận tài trợ từ bên ngoài và tài tài trợ ngược lại cho bên ngoài. Mỗi bên tham gia vào hoạt động tài trợ thương mại quốc tế một mặt đem gói tài chính hoặc chính sách của mình hỗ trợ cho một bên khác, một mặt luôn mong muốn nhận lại những lợi ích theo đúng mục tiêu của họ, ngược lại bên nhận hỗ trợ tài trợ thương mại cũng luôn phải trả giá hoặc trả lại những lợi ích gì đó về lợi ích tài chính hoặc phí tài chính cho bên tài trợ. Vai trò của Tài trợ thương mại quốc tế - Đối với doanh nghiệp: 8 Mỗi doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là doanh nghiệp có tham vọng duy trì, phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thương mại quốc tế luôn vấp phải rào cản và thách thức về tài chính.
Trong cuộc chiến với các doanh nghiệp nội địa trên thị trường nội địa, điều này đã chưa bao giờ là một thách thức dễ dàng vượt qua. Ngày nay, trên thị trường thương mại quốc tế rộng lớn, đối thủ mà các doanh nghiệp phải cạnh tranh đến từ khắp các nền kinh tế trên thế giới, họ nắm trong tay nguồn vốn dồi dào và khoa học kỹ thuật hiện đại, vì vậy một bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp đến từ các quốc gia kém phát triển hơn hay có năng lực nội tại yếu kém hơn là làm thế nào để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này.