Chương I: TỔNG QUAN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM 1. NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO.1 Khái niệm đói nghèo: - Nghèo: Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư thiếu ăn nhưng không đứt bữa; mặc thì không lành và không đủ ấm; ở nhà rách nát và không có đủ khả năng sản xuất. Một cách hiểu khác: Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng quy định còn tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương, từng thời kỳ tức là tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của cả quốc gia.
Tóm lại: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Theo khái niệm này, không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo thời gian, không gian. - Đói: Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống cực thấp, dưới mức tối thiểu của nhu cầu: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thậm chí không có nhà ở, không đủ hàm lượng Calo cung cấp cho hàng ngày (2.100 Kcal/người/ngày). - Xã nghèo (đối với Việt Nam): Xã nghèo là xã có một trong những đặc trưng sau: Tỷ lệ hộ nghèo của xã chiếm trên 40% tổng số hộ trong xã; không có, hoặc rất yếu các cơ sở hạ tầng về đường giao thông; điện thấp sáng, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, chợ.
- Nghèo theo chuẩn Quốc tế: Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhangen, Đan Mạch tháng 3-1995 đã đưa ra khái SVTH: Nguyễn Đăng Minh Xuân GVHD: TS Phan Mỹ Hạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15 -4- niệm về nghèo cụ thể hơn như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 USD/mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”(1). Ý nghĩa công tác xoá đói giảm nghèo. Đói nghèo là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước nghèo và các nước đang phát triển. Đói nghèo gây hậu quả nghiêm trọng đến phát triển quốc gia, phát triển giống nòi và ổn định chính trị, xã hội.
Người nghèo khó có các điều kiện để tiếp cận hoặc tiếp cận ở mức thấp các thành tựu về kinh tế - xã hội (từ những nhu cầu thiết yếu cuộc sống như lương thực thực phẩm, nhà ở, quần áo…; đến các điều kiện học hành, văn hoá, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc…). Từ đó cuộc sống rất khó khăn, khó có cơ hội để phát triển. Nhiều người nghèo không chỉ làm cho quốc gia nghèo mà còn là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội, cản trở sự phát triển đi lên của đất nước; một số trường hợp gây mất ổn định chính trị. Do đó, XĐGN có ý nghĩa rất quan trọng.
Đối với bản thân người nghèo, thoát nghèo là điều kiện để tiếp cận, thụ hưởng được các thành tựu kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để vươn lên và phát triển. Đối với quốc gia, giải quyết tốt công tác XĐGN góp phần để quốc gia ổn định và phát triển.3 Giải pháp tài chính để thực hiện công tác XĐGN: Các giải pháp tài chính thường được áp dụng để thực hiện công tác XĐGN là: - Huy động các nguồn vốn chăm lo công tác XĐGN (vốn Nhà nước, vốn các thành phần kinh tế, vốn trong dân…). - Đầu tư có mục tiêu, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nghèo, vùng khó khăn để người nghèo có điều kiện thuận lợi vươn lên thoát nghèo. 1 Nguồn: Định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, ThaiLand tháng 9/1993.
Chương trình Quốc gia xoá đói giảm nghèo 1998 – 2000. Chiến lược CPRGS. SVTH: Nguyễn Đăng Minh Xuân GVHD: TS Phan Mỹ Hạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15 -5- - Phát triển các ngành, lĩnh vực; sử dụng chính sách tín dụng, thuế thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư tại các vùng nghèo để người nghèo có việc làm, tăng thu nhập và thoát nghèo. - Thực hiện các chính sách tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm để người nghèo vươn lên thoát nghèo.
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ trực tiếp về giáo dục, y tế, nhà ở…; thực hiện các chính sách trợ cấp xã hội… 1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 1998 - 2010: 1.1: Phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo đói của Việt Nam: - Theo chuẩn quốc tế: Phương pháp xác định đường đói nghèo của Việt Nam thực hiện theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998); có hai đường đói nghèo: + Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm (chuẩn nghèo thấp): được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết (thường được xác định bằng trị giá của một rổ hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng một người một ngày là 2.100kcal) gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. + Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm (gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn hóa, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc, v. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung.
- Chuẩn nghèo áp dụng trong các Chương trình xoá đói giảm nghèo: Dựa vào chuẩn nghèo đói của Việt Nam theo chuẩn quốc tế; căn cứ vào tình SVTH: Nguyễn Đăng Minh Xuân GVHD: TS Phan Mỹ Hạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15 -6- hình thực tế của cả nước; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam tiến hành khảo sát và đưa ra chuẩn nghèo đói để áp dụng chung (chuẩn nghèo được xác định là chuẩn nghèo chung). Qua từng giai đoạn, căn cứ vào tình hình thực tế của cả Nước (mức sống, giá cả hàng hoá, tình hình phát triển kinh tế - xã hội…) và các phương pháp xác định chuẩn đói nghèo nêu trên, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam tiến hành khảo sát và điều chỉnh chuẩn nghèo đói cho phù hợp. Theo đó chuẩn nghèo được xác định qua các năm như sau: + Năm 1997 (áp dụng cho thời kỳ 1996-2000): Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 55 ngàn đồng/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 70 ngàn đồng/người/tháng; vùng thành thị dưới 90 ngàn đồng/người/tháng. + Năm 2001 (áp dụng giai đoạn 2001–2005): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80 nghìn đồng/người/tháng; các vùng đồng bằng nông thôn: dưới 100 nghìn đồng/người/tháng; khu vực thành thị: dưới 150 nghìn đồng/người/tháng.000 đồng/người/ tháng đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/ người/tháng đối với khu vực thành thị(2).2 Thực trạng đói nghèo của Việt Nam vào giai đoạn 1998 - 2000.
- Việt Nam đước xếp vào nhóm các nước nghèo nhất trên thế giới; theo đánh giá của Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), năm 1995 chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam xếp ở nhóm trung bình (122/174 nước xếp hạng)3; tuy nhiên GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương đạt thấp (xếp thứ 134/174 nước xếp hạng). 2 Nguồn: Chương trình toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo của Chính phủ; Tìm hiểu Một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng: Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. 3 Chỉ số HDI được tính chủ yếu dựa vào 3 yếu tố: Tuổi thọ; học vấn và GDP bình quân/người (tính theo sức mua tương đương).
SVTH: Nguyễn Đăng Minh Xuân GVHD: TS Phan Mỹ Hạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15 -7- - Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam khá cao, đến cuối năm 1997 cả nước còn khoảng 2,7 triệu hộ đói nghèo, chiếm 17,4% tổng số hộ của cả nước (tính theo chuẩn quốc tế cả nước còn 37,4% hộ đói nghèo). Trong đó, số hộ đói kinh niên khoảng 300.000 hộ chiếm 2,0% tổng số hộ, chiếm 11,1% số hộ nghèo.489 xã có tỷ lệ hộ đói, nghèo chiếm trên 40%; 1.160 xã thiếu 6 công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường ôtô, điện thắp sáng đến trung tâm xã, trường học cấp I, trạm xá, nước sạch sinh hoạt, chợ); 1,1 triệu người ở 745 xã thuộc diện định canh, định cư nhưng vẫn sống theo kiểu du canh, du cư, cuộc sống bấp bênh; 20 dân tộc thiểu số (có số người dưới 10 ngàn người) có cuộc sống đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong diện cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1-1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái đói nghèo trong số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn lớn.
- Nghèo đói tập trung chủ yếu ở nông thôn, người nghèo sống chủ yếu bằng nghề nông (trên 90% số người nghèo sinh sống ở nông thôn; Trên 80% số người nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ. - Ở khu vực thành thị, đa số người nghèo làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh; phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém, khó có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (nước sạch, vệ sinh môi trường, thoát nước, ánh sáng. - Đói nghèo mang tính chất vùng rất rõ rệt. Các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống, có tỷ lệ đói nghèo khá cao.