CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHAM n â n g CAO NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA LOẠI HÌNH TổN G CÔNG TY 1. Tổng công ty và các đặc điểm của Tổng cồng ty Tổnơ công ty (TCT) là một loại hình doanh nghiệp Nhà nước được thành lâp theo chủ trương của Nhà nước nhằm hình thành và phat tnên cac Tạp đoan kinh tế mạnh thuộc khu vực kinh tế Nhà nước, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước, tạo cho các doanh nghiệp Nhà nước có thể cạnh tranh với các đối tác nước ngoài. Mặt khác cũng là để các doanh nghiệp Nhà nước luôn nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Từ Đại hội Đảng lần thứ 6, đã có Nghị định 27/HĐBT ngày 23/3/1989 ban hành điều lệ liên hiệp xí nghiệp quốc doanh, Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp tổ chức lại Tổng công ty, Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thành lập một số Tổng công ty hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế và sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ngày 20/4/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 39/CP ngày 27/6/1995 ban hành điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Nhà nước - Đây là những văn bản pháp quy liên quan đến việc thực hiện quá trình đổi mới cơ chế quản lý DNNN đối với các Tổng công ty.
Trong suốt thời gian từ năm 1978, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến việc hình thành những DNNN lớn theo mô hình Tổng công ty làm tăng thực lực, tăng khả năng tập trung tích tụ về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực nhăm mở rộng hợp tác phân công sản xuất kinh doanh, tạo ra năng xuất, chất lượng và hiệu quả cao cho từng thành viên và toàn Liên hiệp hoặc các Tổng công ty trong những ngành, lĩnh vực then chốt nhất của các ngành công nghiệp, nông nghiệp. làm tăng khả năng cạnh tranh của DNNN trên mọi lĩnh vực. Thực hiện Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam có 76 Tổng công ty do các bộ, ngành, các ƯBND tỉnh, thành phố thành lập (được gọi tắt là Tổng công ty 90) và Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập 17 Tổng công ty (được gọi tắt là TCT 91) bao gồm 1392 doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, chiếm 24% tổng số DNNN, 66% tổng số vốn và 61% về lao động. Theo tinh thần của Nghị quyết TW 3 khoá IX, từ thực tiễn các điều kiện của Việt Nam hiện nay và trên cơ sở hoạt động thực tiễn của các TCT 90,91 trong thời gian qua, các Tổng công ty Nhà nước đã chứng tỏ vị trí nòng cốt trong nền kinh tế quốc dân và hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt của quốc gia, đóng góp chủ yếu vào ngân sách Nhà nước, là công cụ chủ yếu để Nhà nước bình ổn giá thị trường, mở rộng quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, xét theo các tiêu chí của Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ thì còn nhiều Tổng công ty Nhà nước chưa đạt được 3/4, thậm chí 2/4 tiêu chuẩn. Sự đóng góp của các Tổng công ty vào quá trình phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian qua chưa tương xứng với nguồn vốn đầu tư, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế. Nguyên nhân của các hạn chế đó là do : Các Tổng công ty chỉ bao gồm các DNNN (chính vì thế cho nên còn gọi là TCT Nhà nước); về tổ chức quản lý của các TCT 90,91 vẫn còn chưa rõ ràng, chưa có sự khác biệt nhiều so với mô hình Tổng công ty cũ hoặc mô hình liên hiệp xí nghiệp quốc doanh trước đây. Mối quan hệ giữa Tổng công ty và các DNNN thành viên còn mang nặng tính hành chính, mệnh lệnh.
Các Tổng công ty vẫn chủ yếu hoạt động như một cấp hành chính trung gian giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các DNNN thành viên. Các DNNN thành viên chưa được quyền hạch toán kinh tế độc lập, * ệ 5 chưa thực sự tự làm, tự lo, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, còn trông chờ ỷ lại vào Tổng công ty, vào Nhà nước; trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các DNNN thành viên và các Tổng công ty chưa rõ ràng, làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD) và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Việc xây dựng, củng cố các Tổng công ty có vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý DNNN vì hầu hết các DNNN quan trọng, qui mô lớn, đều nằm trong cơ cấu các Tổng công ty đã thành lập. Các giải pháp củng cố Tổng công ty phải được xây dựng thực hiện theo hướng Tổng công ty phải có cơ cấu mềm dẻo, thành lập trên cơ sở các DNNN nòng cốt, các DNNN thành viên khác phải thực sự tham gia trên tinh thần tự nguyện vì lợi ích chung và lợi ích của chính mình.
Về đặc điểm: TCT Nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty Nhà nước, giữa công ty Nhà nước với các doanh nghiệp khác hoặc hình thành trên cơ sở tổ chức là liên kết giữa các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một số chuyên ngành kinh tế - kĩ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên TCT. Như vậy, về bản chất TCT cũng là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập như các loại hình doanh nghiệp Nhà nước khác với qui mô lớn hơn và bộ máy tổ chức quản lý, hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đa dạng phong phú hơn, phạm vi lớn hơn. Các TCT Nhà nước có thể thành lập theo các loại hình sau: TCT do Nhà nước đầu tư và thành lập, TCT do các công ty Nhà nước có qui mô lớn tự đầu tư và thành lập. Tổng công ty được thành lập nhằm mục đích tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà * Ệ 6 nước giao, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và phục vụ của các đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân.
Tổng công ty có các quyền hạn và nghĩa vụ chung sau đây : Một là : Các Tổng công ty Nhà nước vừa đảm bảo nhiệm vụ kinh doanh và phục vụ trên các ngành kinh tế quốc dân theo các qui hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của Nhà nước. Hai là : Các Tổng công ty Nhà nước có tư cách pháp nhân theo luật pháp Việt Nam, có điều lệ tổ chức và hoạt động. Ba là : Các Tổng công ty Nhà nước được giao vốn và tài sản và chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong phạm vi số vốn do Tổng công ty được quản lý. Bốn là : Các Tổng công ty Nhà nước được quản lý bởi Hội đồng Quản trị và được điều hành bởi Tổng Giám đốc.
Hội đồng Quản trị Tổng công ty thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ của Nhà nước giao. Tổng giám đốc của các Tổng công ty Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật theo đề nghị của Hội đồng Quản trị. Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đổng Quản trị và Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng công ty. Tổng giám đốc Tổng công ty là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng công ty.
Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc là các Phó Tổng Giám đốc và các Ban chuyên môn nghiệp vụ của Tổng công ty. Năm là : Các Tổng công ty Nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác của Nhà nước giao theo các qui định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Nhà nước giao. Sáu là : Các Tổng công ty Nhà nước có quyền phân giao lại cho các đơn vị thành viên quản lý và sử dụng các nguồn lực mà Tổng Công ty đã nhận với # ệ 7 Nhà nước, điều chỉnh các nguồn lực đã phân giao cho các đơn vị thành viên trong các trường hợp cần thiết. Bẩy là : Các Tổng công ty Nhà nước có quyền đầu tư, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác theo các qui định của pháp luật.
Các Tổng công ty Nhà nước có quyền chuyển nhượng, thay thế, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc Tổng công ty quản lý trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn. Các vấn đề chung về cạnh tranh và việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty 1. K h á i n iệ m v à b ả n c h ấ t c ủ a c ạ n h tr a n h Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo quan điểm của Các Mác - Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Nghiên cứu về sản xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh TBCN là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để ý và tham gia, ngược lại những ngành, lĩnh vực mà tỷ suất lợi nhuận thấp thì sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc rút lui của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tư không dễ dàng một sớm, một chiều mà là một chiến lược lâu dài, đó không phải là sự “né tránh cạnh tranh”, nói cách khác cạnh tranh là tất yếu khách quan.