Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò xương sống trong nền kinh tế Việt Nam khi chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký, đóng góp trên 40% GDP và giải quyết việc làm mới cho hơn 50% lực lượng lao động xã hội hàng năm. Tại tỉnh Đắk Lắk, tính đến ngày 31/12/2009, toàn tỉnh có 2.328 doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tới 98,3% tổng số 2.368 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn. Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng số lượng bình quân 24,5%/năm trong giai đoạn 2007 - 2009, khối doanh nghiệp này đang đối mặt với bài toán nan giải về nguồn vốn khi có tới 86% đơn vị hoạt động với quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng và 79% doanh nghiệp bày tỏ nhu cầu cấp thiết về hỗ trợ tài chính.

Nghiên cứu tập trung giải quyết điểm nghẽn trong khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Đắk Lắk, nơi cơ cấu vốn đang mất cân đối nghiêm trọng với tỷ lệ nợ phải trả lên đến 70,16%. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài chính hỗ trợ, đánh giá toàn diện thực trạng huy động vốn qua kênh tín dụng ngân hàng, chính sách thuế, thuê mua tài chính và đề xuất hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ đến năm 2015. Phạm vi nghiên cứu bao quát các doanh nghiệp vừa và nhỏ chính thức hoạt động trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2006 đến năm 2009, định hướng giải pháp đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng, giúp các ngân hàng thương mại tối ưu hóa danh mục cho vay và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết bất cân xứng thông tin trong thị trường tài chính. Theo lý thuyết bất cân xứng thông tin của một số nghiên cứu tài chính kinh điển, các ngân hàng thương mại thường áp đặt điều kiện tài sản bảo đảm khắt khe đối với doanh nghiệp nhỏ do thiếu hụt thông tin minh bạch, từ đó tạo ra hiện tượng phân bổ tín dụng chưa tối ưu. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết can thiệp công và lý thuyết trung gian tài chính nhằm phân tích vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết dòng vốn thông qua các công cụ tài khóa và bảo lãnh tín dụng.

Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa 4 nhóm khái niệm cốt lõi:

  1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Phân định theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP dựa trên hai tiêu chí ưu tiên gồm quy mô tổng nguồn vốn (dưới 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng) và số lao động bình quân năm (dưới 200 người đến 300 người) tùy theo từng khu vực nông nghiệp, công nghiệp hay thương mại dịch vụ.
  2. Tín dụng ngân hàng: Kênh tài trợ ngắn hạn, trung và dài hạn chuyển giao vốn kèm điều kiện hoàn trả gốc và lãi suất theo thỏa thuận.
  3. Cho thuê tài chính: Hoạt động tín dụng trung và dài hạn theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP giúp doanh nghiệp hiện đại hóa máy móc mà không cần thế chấp tài sản.
  4. Quỹ bảo lãnh tín dụng: Định chế tài chính phi lợi nhuận theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg và Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng khi thiếu tài sản bảo đảm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp đáng tin cậy. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2006 - 2009, báo cáo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Đắk Lắk và kết quả điều tra doanh nghiệp thường niên trên 1.387 doanh nghiệp của Cục Thống kê Đắk Lắk. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp với cỡ mẫu 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh trong năm 2009. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo ngành nghề (thương mại 48%, xây dựng 22%, chế biến 10%, nông nghiệp 4%, dịch vụ khác 16%) nhằm phản ánh chính xác cấu trúc kinh tế của địa phương.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tỷ số tài chính (ROS, ROA, ROE) và phương pháp thống kê so sánh chuỗi thời gian là nhằm lượng hóa chính xác hiệu quả sử dụng vốn, xác định rõ tương quan giữa đòn bẩy tài chính và mức độ sinh lời thực tế. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai chặt chẽ theo dòng thời gian từ năm 2006 đến hết năm 2009 để làm căn cứ hoạch định giải pháp cho giai đoạn 2010 - 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2006 - 2009 mang lại 4 phát hiện căn bản về thực trạng tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Đắk Lắk:

Thứ nhất, quy mô vốn và số lượng doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhưng phân bổ nguồn vốn mất cân đối. Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng từ 1.206 cơ sở năm 2006 lên 2.328 cơ sở năm 2009, đạt tốc độ tăng bình quân 24,5%/năm. Tổng nguồn vốn kinh doanh tăng vượt bậc từ 7.994 tỷ đồng năm 2006 lên 36.819 tỷ đồng năm 2009, tương ứng tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 67%/năm. Tuy nhiên, tỷ trọng nợ phải trả trong cơ cấu vốn đã tăng mạnh từ 49,79% năm 2006 lên 70,16% năm 2009, trong khi vốn chủ sở hữu sụt giảm từ 50,21% xuống chỉ còn 29,84%.

Thứ hai, doanh nghiệp đối mặt với rào cản vốn nghiêm trọng do quy mô siêu nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối. Trong tổng số 2.328 doanh nghiệp năm 2009, có 29,5% đơn vị có vốn dưới 1 tỷ đồng, 61% đơn vị có vốn từ 1 đến 10 tỷ đồng và chỉ có 14% đạt mức vốn từ 10 đến 100 tỷ đồng. Khảo sát 100 doanh nghiệp cho thấy 79% đơn vị có nhu cầu hỗ trợ tài chính, trong đó vốn vay ngân hàng chiếm 43,2% tổng nguồn vốn hoạt động và 62% doanh nghiệp xác định ngân hàng là kênh huy động vốn chủ lực.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng tài sản và khả năng sinh lời sụt giảm sâu. Tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu (ROS) giảm từ 0,62% năm 2006 xuống 0,43% năm 2009. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) giảm từ 1,82% năm 2006 xuống 1,16% năm 2009. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) sau khi đạt đỉnh 10,58% năm 2007 đã giảm mạnh xuống còn 3,90% năm 2009.

Thứ tư, mức độ đầu tư đổi mới công nghệ còn rất hạn chế. Mức trang bị tài sản dài hạn bình quân năm 2009 chỉ đạt 6 tỷ đồng/doanh nghiệp và 315 triệu đồng/lao động. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao khi có tới 59,7% lao động phổ thông và 19,7% chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo chuyên môn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ Đắk Lắk bị nghẽn lại xuất phát từ sự thiếu hụt tài sản thế chấp hợp pháp do tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa phương còn chậm. Báo cáo tài chính của phần lớn doanh nghiệp chưa được kiểm toán độc lập, phương án kinh doanh thiếu tính khả thi cao khiến các ngân hàng thương mại ngần ngại cấp tín dụng tín chấp. Khi so sánh với kinh nghiệm hỗ trợ tài chính tại Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi tỷ lệ tín dụng bắt buộc dành cho doanh nghiệp nhỏ tại các ngân hàng địa phương đạt tới 80% cùng hệ thống bảo lãnh tín dụng hoạt động chặt chẽ, có thể thấy khoảng trống can thiệp tài chính công tại Đắk Lắk còn rất lớn.

Dữ liệu tài chính trong luận văn có thể được trình bày sinh động thông qua biểu đồ cột chồng minh họa cơ cấu nợ/vốn chủ sở hữu và biểu đồ đường biểu diễn sự suy giảm của chuỗi chỉ số ROS, ROA, ROE giai đoạn 2006 - 2009. Cách trình bày này làm nổi bật nghịch lý: quy mô tài sản danh nghĩa gia tăng nhanh chóng nhưng hiệu quả sinh lời trên một đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh lại giảm sút, đòi hỏi các chính sách hỗ trợ phải chuyển trọng tâm từ tài trợ vốn đơn thuần sang nâng cao năng lực hấp thụ vốn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính trọng tâm nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ nay đến năm 2015:

  1. Thành lập và vận hành hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Đắk Lắk: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và các tổ chức tín dụng đóng góp vốn điều lệ ban đầu tối thiểu 30 đến 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2011 - 2012. Mục tiêu là cung cấp bảo lãnh vay vốn cho khoảng 150 - 200 lượt doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp, hỗ trợ tăng trưởng dư nợ tín dụng cho khu vực này đạt mức 20 - 25%/năm đến năm 2015.
  2. Tối ưu hóa và minh bạch chính sách ưu đãi thuế: Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk đẩy mạnh triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12. Áp dụng nhất quán mức thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm cho các doanh nghiệp thành lập mới tại địa bàn khó khăn hoặc đầu tư chế biến nông sản, đồng thời rút ngắn 50% thời gian giải quyết hoàn thuế và miễn giảm thuế cho doanh nghiệp sử dụng lao động nữ và lao động đồng bào dân tộc thiểu số (vốn chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh).
  3. Phát triển kênh thuê mua tài chính và thị trường vốn: Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Đắk Lắk phối hợp với các công ty cho thuê tài chính mở rộng dịch vụ tài trợ trọn gói 100% giá trị thiết bị cho các cơ sở chế biến cà phê và nông sản xuất khẩu. Mục tiêu nâng mức đầu tư tài sản dài hạn bình quân từ 6 tỷ đồng lên 10 - 12 tỷ đồng/doanh nghiệp vào năm 2015, giải tỏa áp lực thế chấp bất động sản tại ngân hàng thương mại.
  4. Nâng cao năng lực quản trị tài chính nội bộ: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk phối hợp với các trường đại học, cao đẳng tổ chức các chương trình đào tạo quản trị tài chính, lập báo cáo kế toán theo chuẩn mực cho 100% giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ, phấn đấu hạ tỷ lệ chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo từ 19,7% năm 2009 xuống dưới 5% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu chuyên sâu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền tỉnh Đắk Lắk: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng để Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng và quy hoạch quỹ đất công nghiệp dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ.
  2. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tại Tây Nguyên: Giúp các chi nhánh ngân hàng nhận diện chính xác khẩu vị rủi ro và đặc thù cơ cấu vốn của doanh nghiệp địa phương, từ đó thiết kế các gói tín dụng thấu chi, cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp phù hợp với vòng quay vốn.
  3. Ban lãnh đạo và chủ sở hữu doanh nghiệp vừa và nhỏ: Giúp các nhà quản trị nhận thức rõ thực trạng suy giảm chỉ số ROE (3,90%) và ROA (1,16%), từ đó tái cơ cấu tỷ lệ nợ vay, chủ động lựa chọn phương thức thuê mua tài chính để đổi mới công nghệ mà không phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên khối ngành Kinh tế - Tài chính: Cung cấp khung nghiên cứu điển hình về giải pháp tài chính địa phương, phương pháp đo lường chỉ số tài chính vi mô và tài liệu tham khảo cho các đề tài về kinh tế vùng Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao doanh nghiệp vừa và nhỏ Đắk Lắk gặp trở ngại lớn nhất khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng?

Trở ngại chính bắt nguồn từ việc 86% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, năng lực tài chính mỏng và tỷ lệ nợ phải trả lên tới 70,16%. Phần lớn doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp hợp pháp do thủ tục cấp chứng nhận quyền sử dụng đất chậm trễ, đồng thời báo cáo tài chính thiếu tính chuẩn hóa khiến các ngân hàng thương mại khó đánh giá mức độ rủi ro tín dụng.

Cho thuê tài chính mang lại lợi thế vượt trội nào cho doanh nghiệp địa phương so với vay ngân hàng?

Cho thuê tài chính cho phép tài trợ tới 100% giá trị máy móc, dây chuyền công nghệ mà không đòi hỏi tài sản thế chấp bổ sung. Doanh nghiệp được toàn quyền lựa chọn nhà cung cấp và có quyền mua lại tài sản với giá trị còn lại khi hết hạn hợp đồng, giúp giải quyết triệt để tình trạng đầu tư tài sản dài hạn thấp (chỉ 6 tỷ đồng/doanh nghiệp).

Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật số 14/2008/QH12 hỗ trợ doanh nghiệp như thế nào?

Luật hạ mức thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25% từ ngày 01/01/2009 và áp dụng 2 mức thuế suất ưu đãi 10% và 20%. Doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn khó khăn của tỉnh Đắk Lắk được miễn thuế tối đa 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo, tạo nguồn tích lũy nội bộ để tái đầu tư mở rộng sản xuất.

Các chỉ số tài chính giai đoạn 2006 - 2009 phản ánh điểm yếu nào trong sử dụng vốn của doanh nghiệp?

Tỷ suất ROA giảm từ 1,82% xuống 1,16% và ROS giảm từ 0,62% xuống 0,43% cho thấy chi phí kinh doanh tăng cao và năng lực quản lý tài sản kém hiệu quả. Việc tỷ số nợ vay tăng nhanh làm tăng chi phí lãi vay, bào mòn lợi nhuận ròng và khiến chỉ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE sụt giảm nghiêm trọng còn 3,90% vào năm 2009.

Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính từ Nhật Bản và Hàn Quốc gợi mở bài học gì cho tỉnh Đắk Lắk?

Bài học quan trọng nhất là phải thiết lập hệ thống bảo lãnh tín dụng công cộng và thành lập các tổ chức tài chính chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ. Đồng thời, việc quy định tỷ lệ tín dụng bắt buộc cho các ngân hàng thương mại địa phương và cung cấp gói hỗ trợ kỹ thuật quản trị sẽ giúp giảm thiểu rủi ro nợ xấu và tối ưu hóa dòng vốn tài trợ.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về các kênh tài chính hỗ trợ bên ngoài đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường.
  • Phân tích thực trạng 2.328 doanh nghiệp tại Đắk Lắk giai đoạn 2006 - 2009 làm rõ nghịch lý tăng trưởng quy mô số lượng (24,5%/năm) nhưng suy giảm hiệu quả sinh lời (ROA còn 1,16%, ROE còn 3,90%) và áp lực nợ vay chiếm 70,16% nguồn vốn.
  • Chỉ ra các rào cản cốt lõi gồm: quy mô vốn nhỏ (86% dưới 10 tỷ đồng), thiếu tài sản bảo đảm hợp pháp, công nghệ lạc hậu và năng lực quản trị tài chính nội bộ hạn chế (19,7% chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo).
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá đến năm 2015: vận hành Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh với quy mô 30 - 50 tỷ đồng, tối ưu hóa chính sách ưu đãi thuế 10%, mở rộng kênh thuê mua tài chính và chuẩn hóa năng lực quản lý tài chính cho doanh nghiệp.
  • Để biến các giải pháp thành hiện thực, các cấp chính quyền tỉnh Đắk Lắk, cộng đồng ngân hàng thương mại và các hiệp hội doanh nghiệp cần nhanh chóng ban hành chương trình hành động liên ngành, triển khai đồng bộ các cơ chế tài chính nhằm tạo động lực bứt phá mạnh mẽ cho kinh tế địa phương trong giai đoạn 2010 - 2015.