Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tại CTCP Thương mại Bắc Thái. Chương 3: Giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả kinh doanh tại CTCP Thương mại Bắc Thái. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các DN đang trên đường đua về thị phần, uy tín, hay quy mô thì mục tiêu lâu dài và quan trọng nhất đối với một DN đó chính là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận. Kinh doanh là một trường học đường dài, không phải những thương gia lâu năm sẽ luôn là người có nhiều kinh nghiệm và giành được nhiều ưu thế trên thương trường, thị trường cạnh tranh khiến những nhà kinh doanh phải biết nhanh nhạy và có tầm nhìn chiến lược đối với từng sản phẩm, dịch vụ của DN mình để phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Khi đề cập tới hiệu quả kinh doanh, các nhà kinh tế đã đứng trên những góc độ khác nhau để nhìn nhận và đưa ra những quan điểm cụ thể. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh * Quan điểm thứ nhất Theo Adam Smith, một nhà kinh tế học người Anh: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Theo ông, với các mức chi phí khác nhau cùng cho ra một kết quả thì được coi là mang lại hiệu quả như nhau. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất. Như vậy, quan điểm này đã đồng nhất hiệu quả và kết quả với nhau. * Quan điểm thứ hai Nhiều nhà quản trị quan điểm hiệu quả được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Theo Manfred Kuhn: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Theo đó hiệu qủa được tính theo công thức sau: 𝑲 H= 𝑪 Trong đó: H: Hiệu quả 10 K: Kết quả đạt được C: Chi phí bỏ ra Như vậy, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng hoạt động kinh doanh của DN, còn kết quả kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) phản ánh mặt số lượng của hoạt động kinh doanh. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế đã gắn với toàn bộ chi phí. Coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh.
Tuy nhiên, quan điểm này vẫn chưa thể hiện được mối tương quan giữa chất và lượng của kết quả và mức chặt chẽ của mối liên hệ này. * Quan điểm thứ ba Đây là quan điểm về hiệu quả được trình bày trong giáo trình “Kinh tế học” của P.Nordhmas: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác. Một đường kinh tế hiệu quả nằm trên đường giới hạn năng suất của nó”. Đứng dưới góc độ DN, thực chất quan điểm này đã đề cập đến vấn đề phân bổ các nguồn lực kinh tế nhằm dạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho kinh doanh có hiệu quả.
Xét trên phương diện lý thuyết thì đây chính là mức hiệu quả cao nhất mà nền kinh tế có thể đạt được nhưng không phải lúc nào điều ấy cũng trở thành hiện thực. Để đạt được mức hiệu quả này sẽ cần nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu tư sản xuất theo quy mô phù hợp với nhu cầu thị trường. Từ các quan điểm trên, có thể khẳng định: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các DN kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Khái niệm về phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích hiệu quả kinh doanh là việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật phân tích để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN, từ đó, cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm cho việc ra quyết định. 11 Các loại hình phân tích hiệu quả kinh doanh: * Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh thì phân tích chia làm ba hình thức: - Phân tích trước khi kinh doanh - Phân tích trong kinh doanh - Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh Phân tích trước khi kinh doanh còn được gọi là phân tích tương lai, nhằm dự báo, dự đoán cho các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai. Phân tích tương lai được sử dụng nhiều và thích hợp với các DN trong nền kinh tế thị trường. Bởi vì trong cơ chế thị trường toàn bộ các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của DN đều phải tự tính toán, nên họ phải sử dụng các phương pháp phân tích tương lai để nhận thức được tình hình biến động của thị trường từ đó để đề ra các mục tiêu kế hoạch.
Phân tích trong KD còn được gọi là phân tích hiện tại, là quá trình phân tích cùng với quá trình KD. Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên để điều chỉnh những sai lệch lớn giữa kết quả thực tế so với mục tiêu đặt ra. Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh còn gọi là phân tích quá khứ. Quá trình phân tích này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức được xây dựng và xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đó.
Kết quả phân tích cho ta nhận thức được tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đặt ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo. * Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo phân tích chia làm phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ. Phân tích thường xuyên được đặt ra ngay trong quá trình thực hiện kinh doanh, kết quả phân tích giúp phát hiện ngay tình hình sai lệch so với mục tiêu đạt ra của các chỉ tiêu kinh tế, giúp cho DN có biện pháp điều chỉnh, chấn chỉnh các sai lệch này một cách thường xuyên. 12 Phân tích định kỳ đặt ra sau mỗi kỳ kinh doanh, các báo cáo đã hoàn thành trong kỳ, thường là quý, 6 tháng hoặc năm.
Phân tích định kỳ được thực hiện sau khi đã kết thúc quá trình kinh doanh, do đó kết quả phân tích nhằm đánh giá kết qủa kinh doanh của từng kỳ và là cơ sở để xây dựng các mục tiêu kế hoạch kỳ sau. * Căn cứ theo nội dung phân tích Căn cứ theo nội dung phân tích chia thành phân tích các chỉ tiêu tổng hợp và phân tích chuyên đề. Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp (phân tích toàn bộ): là việc tổng kết tất cả những gì về phân tích kinh tế và đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. nhằm làm rõ các mặt của kết quả kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu tố; nguyên nhân bên ngoài.
Phân tích chuyên đề hay phân tích bộ phận là việc tập trung vào một số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động ảnh hưởng đến chỉ tiêu tổng hợp. Ví dụ như các yếu tố về tình hình sử dụng lao động, về sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất hoặc tình hình sử dụng vốn. Phân tích chuyên đề cũng có thể là phân tích một mặt, một phạm vi nào đó trong quá trình kinh doanh. Ví dụ như ở bộ phận quản lý sản xuất, ở cửa hàng hoặc một bộ phận theo chức năng quản lý nào đó, nhằm đánh giá tình hình thực hiện chức năng quản lý ở bộ phận đó.
Tóm lại, việc đặt ra nội dung phân tích phải căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu của quá trình quản lý sản xuất kinh doanh đề ra. Vì vậy, cần xác định rõ mục tiêu phân tích để lựa chọn thích hợp các loại hình phân tích có hiệu quả thiết thực nhất. Vai trò của phân tích hiệu quả kinh doanh Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh cung cấp cho các đối tượng khác nhau, những người quan tâm tới tình hình hoạt động kinh doanh của DN các thông tin cần thiết để từ đó họ có thể đưa ra các quyết định hữu ích. Các đối tượng đó bao gồm: - Ý nghĩa đối với nhà quản trị DN: Thu nhận các thông tin từ việc phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí, từ đó phát huy những mặt 13 tích cực và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN.
- Ý nghĩa đối với các nhà đầu tư: Thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận, cổ tức… để tiếp thêm sức mạnh đưa ra các quyết định đầu tư thêm, hay rút vốn nhằm thu lợi nhuận cao nhất và đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư. - Ý nghĩa đối với các đối tượng cho vay (ngân hàng, kho bạc, Công ty tài chính): Thông qua các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh để có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, nhiều hay ít vốn nhằm thu hồi được vốn và lãi, đảm bảo an toàn cho các Công ty cho vay. - Với các cơ quan chức năng của Nhà nước (cơ quan thuế, kiểm toán nhà nước, cơ quan thống kê): Thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của DN đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện luật kinh doanh, các chế độ tài chính có đúng không, đánh giá tốc độ tăng trưởng của các DN. Thông qua phân tích để kiến nghị với các cơ quan chức năng góp phần hoàn thiện chế độ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển.