Chương 1: Các vấn đề lý luận về hoạt động tài chính hổ trợ sinh kế cho hộ gia đình nghèo Chương 2: Thực trạng của hoạt động tài chính nhằm cải thiện sinh kế cho hộ gia đình nghèo tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động tài chính nhằm cải thiện sinh kế cho hộ gia đình nghèo ở Đồng Hới, Quảng Bình 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - Oxfam và ActionAid (2012), “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia tại một số cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam”. Tài liệu đã phân tích về nghèo theo cách tiếp cận mới thể hiện tính đa chiều của nghèo đô thị, những thách thức của Việt Nam nói chung và đô thị nói riêng về giảm nghèo và đề xuất tám khuyến nghị cần hành động nhằm giảm nghèo tại khu vực đô thị.
- UNDP (2011), “Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người: Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011”. Nội dung của Báo cáo đã giới thiệu chỉ số Nghèo đói đa chiều quốc gia, đặc biệt là chỉ số nghèo trẻ em đa chiều và nghèo đói đô thị. Đồng thời, đưa ra một nền tảng quan trọng cho việc đánh giá nghèo đói phi tiền tệ. - Viện khoa học xã hội Việt Nam (2011), “Giảm nghèo ở Việt Nam, cơ hội và thách thức”.
Tài liệu này đã làm rõ trạng thái nghèo (trạng thái tĩnh và trạng thái động), làm rõ sự đa dạng của nhóm người nghèo, chính sự khác biệt giữa nghèo ở trạng thái tĩnh và nghèo ở trạng thái động là điều cần phải được chú ý khi xây dựng các chính sách giảm nghèo.TS Đỗ Kim Chung (2013), “Giáo trình Chính sách công”. Nội dung giáo trình có phần viết về chi tiêu công và chính sách xã hội trong đó có viết về các công cụ chủ yếu của chính sách giảm nghèo, xu hướng đổi mới chính sách giảm nghèo. Luan van 5 - PGS,TS Bùi Quang Bình (2012), “Giáo trình Kinh tế phát triển”, Nxb Thông tin và Truyền thông. Có phần nội dung viết về vốn với phát triển kinh tế, đồng thời trong phần nội dung viết về nông nghiệp với phát triển kinh tế đã đề cập đến chính sách vốn trong phát triển nông nghiệp và chính sách vốn với người nghèo; vị trí, vai trò to lớn của vốn với sự phát triển kinh tế, thể hiện liên quan đến tăng trưởng kinh tế cũng như giải quyết các vấn đề xã hội trong phát triển.
- Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012), “Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam”. Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết này cho ta thấy quan hệ qua lại giữa tình trạng nghèo về tiền và các đặc trưng inh tế - xã hội khác của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam dựa trên cách tiếp cận sinh kế và tìm kiếm các chỉ báo kinh tế - xã hội phù hợp cho đo lường nghèo đa chiều. - Nguyễn Thị Hằng (2009) “Một số nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh”.
Bài viết phân tích một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến nghèo đói ở khu vực ngoại thành; chìa khóa giảm nghèo thành công: trợ vốn cho xóa đói giảm nghèo; có phương hướng trợ vốn và các chính sách ưu đãi cho người nghèo; mở rộng khả năng người nghèo tiếp cận dịch vụ tài chính, tín dụng ở nông thôn. - Hoàng Văn Thành và Nguyễn Văn Chiến (2013), “Một số mô hình thành công của Ngân hàng Tài Chính vi mô quốc tế- Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Tạp chí Ngân hàng số 7 tháng 4 năm 2013. Bài viết này đã đi sâu nghiên cứu về 3 mô hình “Tài chính vi mô” thành công trên thế giới và cho thấy đây là công cụ tài chính hữu hiệu để hỗ trợ cho người nghèo trong việc cải thiện sinh kế của gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Đề tài khoa học của nhóm tác giả Trịnh Quang Tú, Nguyễn Xuân Cương, Võ Thanh Bình và Phạm Thị Minh Tâm (2005) “Phân tích sinh ế Luan van 6 bền vững cho hộ nghèo tại các cộng đồng dân tộc miền núi phía Bắc, Việt Nam”. Đã nghiên cứu đánh giá các sinh ế sản xuất của các hộ nghèo ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình; đưa ra một số giải pháp về tài chính, các giải pháp về kỹ thuật và sự liên kết tổ chức sản xuất giữa các hộ nghèo trong việc tiêu thụ sản phẩm để các hộ nghèo thể có những sinh kế thoát nghèo bền vững. - Đề tài khoa học của Đặng Ngọc Quang (2005) “Xây dựng nguồn vốn xã hội – phương thức tạo quyền cho người nghèo trong phát triển địa phương” đã giúp hệ thống hóa về mặt phương pháp luận về mối quan hệ giữa sinh kế của các hộ dân nghèo trong việc tham gia vào việc xây dựng nguồn vốn xã hội. - Phạm Quang Tín, (2009), “Nghiên cứu thu nhập và việc làm của các hộ dân tái định cư quận Sơn Trà Thành phố Đà Nẵng”.
Đề tài cho thấy những đặc điểm cơ bản của mô hình sinh kế tại các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa. Đồng thời đề tài cũng đề xuất được một số nhóm giải pháp về giải quyết việc làm, tạo điều kiện thuận lợi về tài chính, các chính sách hỗ trợ tháo gỡ những hó hăn cho các hộ dân tái định cư. - Võ Khắc Thường và Trần Văn Hoàng (2013), “Tài chính vi mô tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế đói nghèo tại Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập UEF số 9 (19). Bài viết làm rõ một số lý luận về tài chính vi mô, đánh giá thực trạng tài chính vi mô tại Việt Nam.
Trên cơ sở một số mô hình tài chính vi mô ở một số nước, tác giả đề xuất 3 sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô được xem là phù hợp, có thể phát triển tại thị trường tài chính vi mô ở Việt Nam - TS Võ Thị Phương Lan (2011), “Sử dụng công cụ tài chính công nhằm mục tiêu giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc”. Bài viết làm rõ vai trò của tài chính đối với giảm nghèo, đề xuất các giải pháp sử dụng công cụ tài chính công để giảm nghèo có hiệu quả. - Nguyễn Thị Hoa (2009), “Hoàn thiện các chính sách giảm nghèo chủ Luan van 7 yếu của Việt Nam đến năm 2015”. Bài viết đã đề cập đến một số chính sách liên quan trực tiếp đến giảm nghèo trên phạm vi cả nước và chỉ ra những điểm hạn chế chung như: chính sách đã được triển hai nhưng chưa đến được đúng đối tượng; nhiều người nghèo chưa biết đến chính sách; việc tổ chức cũng như phối hợp thực hiện còn nhiều điểm bất cập đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thực hiện chính sách.
- Văn Lạc (2012), “Ngân hàng chính sách xã hội Quảng Bình -10 năm với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo”. Tạp chí Ngân hàng số 24. Bài viết đã chỉ ra những vướng mắc trong cho vay giải quyết việc làm, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường, cơ chế gia hạn nợ và lãi suất. - Mai Lâm, (2012), “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng học sinh sinh viên tại Vĩnh Long - Những vấn đề nhìn từ thực tiễn”.
Tạp chí Ngân hàng số 24. Bài viết phân tích những thuận lợi , hó hăn trong quá trình thực hiện cho vay học sinh, sinh viên, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cho học sinh, sinh viên. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG VIỆC CẢI THIỆN SINH KẾ CHO HỘ GIA ĐÌNH NGHÈO 1. SINH KẾ HỘ GIA ĐÌNH NGHÈO VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG VIỆC CẢI THIỆN SINH KẾ 1.
Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo - Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư hông được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo được nhận diện trên 02 khía cạnh: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả chỉ quan tâm đến nghèo tuyệt đối. Theo Robert Macnamara: “Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta”. Ngân hàng Thế giới đưa ra chuẩn tổng quát cho nghèo tuyệt đối đó là những người có mức thu nhập dưới 1 USD/ ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với sức mua chung của thế giới.
- Ở Việt Nam, Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính phủ ngày 30 tháng 01 năm 2011 về “Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo” quy định: + Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. + Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. + Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ Luan van 9 401.000 đồng/người/tháng. + Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.
Sinh kế của hộ gia đình nghèo a. Sinh kế và các khái niệm liên quan Sinh kế là tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: Vốn con người: Bao gồm sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ biểu hiện ở kỹ năng, iến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của người dân. Có thể người dân cố gắng làm việc siêng năng nhưng do sức khỏe hông đảm bảo, năng lực hạn chế nên không có khả năng tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống do năng suất lao động thấp.
Đối với người nghèo, do đời sống khó hăn, cô lập với bên ngoài nên trình độ học vấn thường rất hạn chế. Vốn xã hội: Thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội có ý nghĩa trong việc đảm bảo phần nào những điều kiện cần thiết cho cuộc sống của hộ gia đình. Tình làng, nghĩa xóm được thể hiện thông qua việc thúc đẩy sự hợp tác trong sản xuất.