Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2011 - 2015 ghi nhận bước chuyển mình tích cực trong công tác giảm nghèo tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên khi có tới 4.090 hộ thực tế thoát nghèo, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 21,99% đầu kỳ xuống còn 9,53% cuối kỳ (tỷ lệ giảm bình quân đạt 2,49%/năm theo chuẩn nghèo đơn chiều). Mặc dù đạt được những chỉ số ấn tượng, kết quả giảm nghèo tại địa phương vẫn chưa thực sự bền vững khi số lượng hộ cận nghèo còn lớn, nguy cơ tái nghèo cao và khoảng cách phát triển giữa các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hiện hữu. Bước ngoặt căn bản diễn ra khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020. Khi áp dụng chuẩn đo lường mới, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của huyện Phú Lương năm 2016 ghi nhận ở mức 13,54%, cao hơn 0,14 điểm phần trăm so với mức bình quân chung của toàn tỉnh Thái Nguyên.

Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới căn bản tư duy quản lý: chuyển đổi từ phương pháp đo lường nghèo đơn chiều thuần túy theo thu nhập sang khung phân tích đa chiều toàn diện. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp với đề tài "Nghiên cứu giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên" tập trung giải quyết các mục tiêu cốt lõi: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững tiếp cận đa chiều; (2) Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều và kết quả thực thi các chính sách giảm nghèo tại địa phương; (3) Phân tích các yếu tố nội lực và ngoại lực tác động đến nghèo đa chiều; (4) Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy giảm nghèo bền vững. Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn huyện Phú Lương với trọng tâm khảo sát tại 3 xã đại diện gồm Động Đạt, Yên Ninh và Yên Đổ, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 và dữ liệu sơ cấp năm 2016, tạo cơ sở thực chứng để hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 2,0% đến 2,5% mỗi năm một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa Khung sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và Phương pháp đo lường nghèo đa chiều của Sabina Alkire và James Foster (phương pháp Alkire - Foster do UNDP chuẩn hóa từ năm 2010). Khung sinh kế bền vững nhìn nhận khả năng chống chịu và thoát nghèo của hộ gia đình thông qua năng lực tích lũy 5 nguồn vốn sinh kế: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Phương pháp Alkire - Foster khắc phục triệt để khiếm khuyết của thước đo thu nhập truyền thống (chuẩn 1 USD hoặc 2 USD/ngày của Ngân hàng Thế giới), cho phép lượng hóa các chiều thiếu hụt phúc lợi phi tiền tệ.

Hệ thống khái niệm nòng cốt gồm: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, chỉ số nghèo đa chiều (MPI) và giảm nghèo bền vững (duy trì vững chắc mức sống trên chuẩn nghèo ngay cả khi đối mặt với rủi ro thiên tai, dịch bệnh hay biến động kinh tế). Căn cứ Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, chuẩn nghèo đa chiều nông thôn giai đoạn 2016 - 2020 được xác định qua 2 trục tiêu chí: tiêu chí thu nhập (chuẩn nghèo từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống; cận nghèo từ 701.000 đến 1.000.000 đồng/người/tháng) và tiêu chí mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (Y tế, Giáo dục, Nhà ở, Nước sạch và vệ sinh, Tiếp cận thông tin) được cụ thể hóa thành 10 chỉ số đo lường chi tiết. Hộ nghèo nông thôn là hộ có thu nhập từ 700.000 đồng trở xuống, hoặc có thu nhập trên 700.000 đồng nhưng thiếu hụt từ 3/10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và chiều sâu phân tích. Số liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ niên giám thống kê, báo cáo định kỳ giai đoạn 2013 - 2015 của Chi cục Thống kê huyện Phú Lương, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện và UBND các xã điều tra.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2016 thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích tại 3 xã nghiên cứu: Động Đạt (vùng trung tâm phát triển), Yên Ninh (vùng núi cao phía Bắc) và Yên Đổ (vùng trung du đặc thù). Tổng quy mô mẫu điều tra gồm 150 hộ gia đình (được phân bổ đồng đều giữa các nhóm hộ nghèo đa chiều, hộ cận nghèo và hộ trung bình - khá) cùng 18 cán bộ quản lý phụ trách công tác an sinh xã hội cấp huyện và xã thông qua bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn sâu. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm bao quát đầy đủ tính đa dạng về điều kiện tự nhiên, trình độ canh tác và cơ cấu thành phần dân tộc thiểu số.

Các phương pháp phân tích số liệu bao gồm: phương pháp thống kê mô tả nhằm làm rõ thực trạng kinh tế - xã hội; phương pháp thống kê so sánh để đối chiếu khoảng cách nghèo qua các năm; phương pháp phân tổ thống kê và phương pháp cho điểm chỉ số thiếu hụt. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm nhận diện chính xác ma trận thiếu hụt dịch vụ xã hội của từng nhóm hộ, bóc tách mối liên hệ nhân quả giữa cấu trúc tài sản sinh kế và nguy cơ tái nghèo, làm căn cứ khoa học vững chắc cho việc thiết kế chính sách can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực chứng mang lại những phát hiện quan trọng về bức tranh giảm nghèo tại huyện Phú Lương:

Thứ nhất, có sự gia tăng cơ học rõ rệt về quy mô hộ nghèo khi chuyển đổi phương pháp đo lường. Giai đoạn 2013 - 2015, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đơn chiều giảm nhanh với tốc độ bình quân 4,37%/năm, đưa tỷ lệ nghèo năm 2015 xuống 9,53%. Tuy nhiên, khi chuyển sang chuẩn nghèo đa chiều năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo tăng lên 13,54%, cao hơn mức bình quân chung của tỉnh Thái Nguyên 0,14 điểm phần trăm. Thực tế này chứng minh một bộ phận không nhỏ cư dân dù đã vượt ngưỡng nghèo thu nhập nhưng vẫn bị tước đoạt các tiện ích sống tối thiểu.

Thứ hai, mức độ thiếu hụt phân hóa sâu sắc giữa 10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản. Tỷ lệ thiếu hụt tập trung cao nhất ở nhóm chỉ số về điều kiện sống và môi trường: chỉ số hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh có tỷ lệ thiếu hụt cao nhất lên tới 37,97%, tiếp sau là chỉ số diện tích nhà ở bình quân với 36,00% số hộ thiếu hụt. Ngược lại, các chỉ số thuộc chiều Y tế và Giáo dục ghi nhận mức độ thiếu hụt rất thấp: tiếp cận dịch vụ y tế chỉ thiếu hụt 1,82% và tình trạng đi học của trẻ em chỉ thiếu hụt 2,22%.

Thứ ba, đặc điểm tài nguyên và cơ cấu lao động tạo áp lực lớn lên sinh kế nông hộ. Huyện Phú Lương có tổng diện tích tự nhiên 36.894,65 ha, trong đó đất sản xuất nông - lâm nghiệp chiếm trên 80% (đất lâm nghiệp chiếm 47,44%, đất nông nghiệp chiếm 35,24%). Dân số toàn huyện trên 107.000 người với 8 dân tộc chung sống, trong đó lực lượng lao động khu vực nông thôn chiếm tới 89,10% (khu vực thành thị chỉ chiếm 10,90%). Cơ cấu kinh tế năm 2015 có sự chuyển dịch nhưng còn chậm: ngành nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 32,00%, công nghiệp - xây dựng chiếm 35,00%, dịch vụ và thương mại chiếm 33,00%.

Thứ tư, phân tích định lượng chỉ ra rằng trong 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng (lao động, đất đai, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách), yếu tố cơ chế chính sách giảm nghèo và tín dụng ưu đãi có tác động chi phối mạnh mẽ nhất đến quyết định thoát nghèo bền vững của người dân.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ thiếu hụt nhà tiêu hợp vệ sinh (37,97%) và diện tích nhà ở (36,00%) ở mức cao xuất phát từ tập quán sinh hoạt nông thôn lâu đời, địa hình đồi núi chia cắt nguồn cấp nước tập trung và nguồn vốn tích lũy của hộ nghèo không đủ để đầu tư công trình phụ kiên cố. Trái lại, tỷ lệ thiếu hụt y tế (1,82%) và giáo dục (2,22%) duy trì ở mức rất thấp là minh chứng rõ nét cho sự bao phủ hiệu quả của chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho 100% người nghèo, cùng hệ thống cơ sở vật chất sẵn có gồm 66 điểm trường học (812 phòng học) và 18 cơ sở y tế (165 giường bệnh, đạt 1,54 giường/vạn dân) phân bố rộng khắp 16 xã, thị trấn.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ thiếu hụt giữa 10 chỉ số xã hội cơ bản, kết hợp ma trận phân tổ 4 ô giữa trục thu nhập và trục thiếu hụt dịch vụ. Mô hình này giúp phân loại rõ nhóm "nghèo cả thu nhập lẫn đa chiều" và nhóm "không nghèo thu nhập nhưng nghèo đa chiều". Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu lân cận tại tỉnh Bắc Kạn hay huyện Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên), kết quả tại Phú Lương có sự tương đồng về rào cản vệ sinh môi trường nông thôn, nhưng cho thấy lợi thế vượt trội về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục nhờ vị trí liền kề thành phố Thái Nguyên và trục giao thông huyết mạch Quốc lộ 3 dài 35,6 km. Điều này khẳng định bài toán giảm nghèo tại Phú Lương không nằm ở việc xây dựng thêm trạm y tế hay trường học, mà là nâng cao năng lực kinh tế hộ để cải thiện chất lượng nhà ở và vệ sinh môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân từ 2,00% đến 2,50%/năm giai đoạn 2016 - 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Nâng cấp điều kiện nhà ở và công trình vệ sinh nông thôn: UBND huyện Phú Lương chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội triển khai gói tín dụng ưu đãi chuyên biệt xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và nhà ở kiên cố. Đặt mục tiêu đến năm 2020 giảm tỷ lệ thiếu hụt hố xí hợp vệ sinh từ 37,97% xuống dưới 15,00% và tỷ lệ thiếu hụt diện tích nhà ở từ 36,00% xuống dưới 18,00%, lồng ghép hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới.

  2. Tái cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp gắn với chuỗi giá trị: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Trạm Khuyến nông huyện tổ chức định kỳ 45 - 50 lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh chè an toàn VietGAP và quản lý rừng bền vững mỗi năm. Khai thác hiệu quả 17.465 ha đất lâm nghiệp, chuyển dịch 32,00% cơ cấu giá trị nông nghiệp hiện tại sang mô hình kinh tế trang trại, nâng thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo nông thôn vượt ngưỡng 1.000.000 đồng/tháng vào năm 2020.

  3. Cá nhân hóa chính sách an sinh xã hội theo nhóm đối tượng: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện thiết lập quy trình phân loại hộ chính xác: nhóm hộ nghèo bất khả kháng (người cao tuổi, người khuyết tật) chuyển hẳn sang diện bảo trợ xã hội thường xuyên; nhóm hộ nghèo thiếu vốn được hỗ trợ vay vốn sản xuất chu kỳ 3 - 5 năm; nhóm hộ không nghèo thu nhập nhưng thiếu hụt đa chiều được hỗ trợ trực tiếp về nước sạch và thiết bị thông tin.

  4. Mở rộng mạng lưới truyền thông và trợ giúp pháp lý cơ sở: Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông huyện cùng UBND 14 xã và 2 thị trấn hoàn thiện hạ tầng truyền thanh cơ sở và điểm internet công cộng tại 274 xóm, phố. Phấn đấu 100% thôn bản khó khăn được phổ biến kịp thời thông tin giá cả nông sản, kỹ thuật canh tác và chính sách an sinh, từng bước xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp của một bộ phận người dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham chiếu thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách an sinh xã hội: Lãnh đạo và chuyên viên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Phú Lương cùng các huyện trung du miền núi có thể sử dụng hệ thống số liệu thực chứng của luận văn làm căn cứ xây dựng Kế hoạch giảm nghèo đa chiều trung hạn 2016 - 2020 và các đề án an sinh địa phương.

  2. Hệ thống ngân hàng chính sách và cán bộ khuyến nông cơ sở: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội và Trạm Khuyến nông huyện có thể áp dụng kết quả phân tích 5 nguồn vốn sinh kế để thiết kế các gói sản phẩm tín dụng vi mô gắn liền với quy trình chuyển giao kỹ thuật canh tác chè và kinh tế rừng phù hợp với 89,10% lao động nông thôn.

  3. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khối ngành Kinh tế: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Xã hội học có thể khai thác khung lý thuyết Alkire - Foster, mô hình phân tích 10 chỉ số thiếu hụt và phương pháp chọn mẫu phân tầng tại 3 tiểu vùng sinh thái làm tài liệu tham khảo phương pháp luận chuẩn mực.

  4. Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Các chuyên gia dự án phát triển cộng đồng có thể khai thác dữ liệu về mức độ thiếu hụt vệ sinh (37,97%) và nhà ở (36,00%) để thẩm định, phê duyệt và tài trợ các dự án nước sạch vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng sống cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nghèo đa chiều khác biệt căn bản như thế nào so với chuẩn nghèo đơn chiều truyền thống?
    Nghèo đơn chiều thuần túy đo lường mức thu nhập bằng tiền (dưới 700.000 đồng/người/tháng tại nông thôn), dễ bỏ sót các nhu cầu sinh tồn cơ bản. Nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg kết hợp đồng thời tiêu chí thu nhập với mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số), phản ánh toàn diện phúc lợi và chất lượng sống thực tế của hộ gia đình.

  2. Tại sao tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Phú Lương lại tăng khi chuyển sang phương pháp đo lường đa chiều?
    Năm 2015 tỷ lệ nghèo đơn chiều là 9,53%, nhưng sang năm 2016 tỷ lệ nghèo đa chiều ghi nhận ở mức 13,54%. Sự gia tăng này xuất phát từ việc bộc lộ các thiếu hụt phi tiền tệ nghiêm trọng: có tới 37,97% hộ thiếu hố xí hợp vệ sinh và 36,00% hộ thiếu diện tích nhà ở, khiến các hộ dù đạt chuẩn thu nhập vẫn rơi vào diện nghèo đa chiều.

  3. Yếu tố nào đóng vai trò quyết định nhất đối với tiến trình giảm nghèo bền vững tại địa phương?
    Kết quả phân tích định lượng chứng minh nhóm cơ chế, chính sách giảm nghèo và nguồn vốn tín dụng ưu đãi giữ vai trò chi phối hàng đầu. Đây là đòn bẩy trực tiếp khơi thông tiềm năng của trên 80% diện tích đất nông - lâm nghiệp và giải phóng sức sản xuất của 89,10% lao động khu vực nông thôn.

  4. Vì sao tỷ lệ thiếu hụt dịch vụ Y tế và Giáo dục tại Phú Lương lại ở mức rất thấp?
    Chỉ số thiếu hụt tiếp cận y tế chỉ chiếm 1,82% và giáo dục trẻ em chỉ chiếm 2,22%. Kết quả ấn tượng này đạt được nhờ huyện duy trì mạng lưới 66 trường học (812 phòng học), 18 cơ sở y tế với 165 giường bệnh (1,54 giường/vạn dân), kết hợp chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho 100% đối tượng hộ nghèo.

  5. Làm thế nào để khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của người dân?
    Cần chuyển đổi căn bản từ hình thức trợ cấp "cho không" sang hỗ trợ phát triển sinh kế có điều kiện và đối ứng. Tăng cường đào tạo nghề nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật canh tác chè VietGAP và quản lý rừng, gắn trách nhiệm hoàn trả vốn vay ưu đãi để kích thích ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo của nông hộ.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lưu Thị Thùy Linh mang lại 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Làm rõ bước chuyển dịch phương pháp luận từ đo lường nghèo đơn chiều (9,53%) sang chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều (13,54% năm 2016) trên địa bàn huyện Phú Lương.
  • Định lượng chính xác 2 điểm nghẽn thiếu hụt nghiêm trọng nhất về dịch vụ xã hội cơ bản là hố xí hợp vệ sinh (37,97%) và diện tích nhà ở (36,00%).
  • Khẳng định vai trò chi phối quyết định của hệ thống cơ chế chính sách an sinh và nguồn vốn tín dụng đối với năng lực sinh kế của hộ nông dân.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp có tính khả thi cao, gắn kết chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2016 - 2020.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung phương pháp luận chuẩn xác cho công tác quản trị giảm nghèo tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương khẩn trương thể chế hóa các giải pháp vào chương trình mục tiêu quốc gia hàng năm, ưu tiên phân bổ ngân sách xử lý dứt điểm các chỉ số thiếu hụt hạ tầng vệ sinh và nhà ở. Các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng mô hình sinh kế đa chiều vào thực tiễn phát triển nông thôn hiện đại.