phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Nhận thức chung về quản trị rủi ro nguồn nhân lực Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro nguồn nhân lực tại Ban quản lý dự án Thăng Long Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro nguồn nhân lực tại Ban quản lý dự án Thăng Long 8 CHƢƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Lý luận chung về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”. (Liên hợp quốc, 2000, tr. Ngân hàng thế giới cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân.
Nhƣ vậy, ở đây nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. (Ngân hàng thế giới, 2000, tr.75) Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động. (Tổ chức Lao động quốc tế, 1995, tr. Dƣới góc độ kinh tế phát triển thì nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện trên hai mặt: về số lƣợng đó là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nƣớc và thời gian lao động có thể huy động đƣợc từ họ; về chất lƣợng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của ngƣời lao động.
Nguồn lao động là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. 9 Nguồn lao động cũng đƣợc hiểu trên hai mặt: số lƣợng và chất lƣợng. Nhƣ vậy, theo khái niệm này, có một số đƣợc tính là nguồn nhân lực nhƣng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những ngƣời không có việc làm nhƣng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những ngƣời không có nhu cầu tìm việc làm, những ngƣời trong độ tuổi lao động quy định nhƣng đang đi học… Dƣới góc độ kinh tế chính trị, thì nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc. Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế.
Bởi vậy, việc phát triển con ngƣời, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Các doanh nghiệp, tổ chức, nhà nƣớc cần phải c hăm lo đầy đủ đến con ngƣời là để bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thị nh vƣợng của mọi quốc gia, cần đ ầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ có tính chiến lƣợc, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững. Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con ngƣời nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Bên cạnh đó, có quan điểm thì cho rằng phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con ngƣời, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con ngƣời trở thành ngƣời lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng đƣợc những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.2 Đặc điểm nguồn nhân lực Theo Giáo trình Quản trị nhân lực - PGS. Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm - NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) thì nguồn nhân lực có những đặc điểm sau: 10 Thứ nhất, nguồn nhân lực là một nguồn sống Giá trị của con ngƣời đối với xã hội chủ yếu thể hiện ở năng lực lao động của con ngƣời, trong khi năng lực lao động không thể tồn tại độc lập ngoài cơ thể khỏe mạnh. Do đó con ngƣời có năng lực nghề nghiệp cần có cơ thể khỏe mạnh, có tinh thần chủ động làm việc và ý thức sáng tạo cái mới, có khả năng thích ứng với môi trƣờng tổ chức và văn hóa của doanh nghiệp.
Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr 42). Thứ hai, nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp Giá trị của một hàng hóa đƣợc cấu thành từ hai bộ phận chủ yếu có tính chất khác nhau, đó chính là bộ phận “giá trị chuyển dịch” và bộ phận “giá trị gia tăng”. Giá trị chuyển dịch là những yếu tố sản xuất đƣợc mua về trong quá trình tạo nên sản phẩm nhƣ vật liệu, năng lƣợng, khấu hao tài sản cố định… trong quá trình tạo thành giá trị của hàng hóa, giá trị của những yếu tố sản xuất này không tăng thêm mà chỉ chyển hóa giá trị vốn của nó vào sản phẩm mới.
Vì vậy bộ phận này không tạo ra lợi nhuận. Nhƣng ý nghĩa giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp hoàn toàn khác, đó là bộ phận chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và giá trị chuyển dịch. Phần giá trị gia tăng này cơ bản là do lao động sáng tạo ra, đó chính là nguồn gốc của lợi nhuận và giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuận càng lớn, muốn có giá trị gia tăng cao thì cần phải dựa vào chất lƣợng và kết quả nguồn nhân lực. Nguyễn Ngọc Quân và ThS.
Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr 42). Thứ ba, nguồn nhân lực là nhân tố mang tính chiến lƣợc Việc quản lý nguồn nhân lực có liên quan đến sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Vai trò của nguồn nhân lực, vật lực, thể lực của ngƣời lao động tăng lên cùng với sự hình thành của nền kinh tế tri thức, sự phát triển của kinh tế xã hội. Vì vậy, nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng trong thời đại hiện nay.
Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr 43). Thứ tƣ, nguồn nhân lực là một nguồn lực vô tận Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp không ngừng phát triển và nguồn lực con nguời là vô tận. Hơn nữa chu trình sáng tạo cái mới thông qua lao động trí 11 óc sẽ ngày càng ngắn.
Sự phát triển của kinh tế tri thức là vô tận và việc khai thác nguồn nhân lực cũng vô tận. Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr 43).3 Vai trò nguồn nhân lực Theo Giáo trình Quản trị nhân lực - PGS. Nguyễn Ngọc Quân và ThS.
Nguyễn Vân Điềm - NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) thì vai trò của nguồn nhân lực gồm: Thứ nhất, con ngƣời là động lực của sự phát triển Nói đến nhân lực là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên đó không phải là chủ thể biệt lập, riêng lẻ mà là những chủ thể đƣợc tổ chức về lực lƣợng, thống nhất về tƣ tƣởng và hành động. Nói một cách cụ thể hơn nguồn nhân lực với tƣ cách của động lực, của sự phát triển chính là tổng hợp những chủ thể với những phẩm chất nhất định tham gia vào quá trình chung của xã hội. Cần hiểu rằng “tổng hợp những chủ thể” không phải là tổng hợp giản đơn số lƣợng ngƣời mà nó tổng hợp sức mạnh của chỉnh thể, của những ngƣời hành động.
Sức mạnh này bắt nguồn trƣớc hết từ những phẩm chất bên trong của mọi chủ thể và nó đƣợc nhân lên gấp bội trong hoạt động thực tiễn. Động lực của sự phát triển là những gì thúc đẩy quá trình này vận động và phát triển. Vì vậy, khi nói đến “con ngƣời là động lực của sự phát triển” là chủ yếu nói đến những phẩm chất tích cực của con ngƣời đƣợc bộc lộ trong quá trình thúc đẩy sự phát triển. Vì vậy, quan trọng là phải tạo điều kiện tối đa để con ngƣời phát triển là thể hiện những mặt tích cực của mình và hạn chế những mặt tiêu cực.
Phát triển kinh tế xã hội phải dựa vào nhiều nguồn lực nhƣ: nhân lực, vật lực, tài lực…Song mọi nguồn lực khác muốn phát huy đƣợc tác dụng thì phải thông qua nguồn lực con ngƣời. Chính con ngƣời bằng sự kết hợp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khỏe…đã sử dụng các nguồn lực khác một cách hiệu quả nhất nhằm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân mình. Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr 44).
Thứ hai, con ngƣời là mục tiêu của sự phát triển 12 Phát triển kinh tế xã hội suy cho cùng là những mục tiêu nhằm phục vụ con ngƣời, làm cho cuộc sống con ngƣời ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại hơn. Con ngƣời là những chủ thể chính sản xuất ra của cải vật chất và cũng là lực lƣợng tiêu thụ chính đối với những sản phẩm do họ sản xuất ra. Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr 44).
Ngày nay, nhu cầu của con ngƣời ngày càng tăng gắn liền với sự phát triển kinh tế.