CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỰC HÀNH QUẢN TRỊ NHÂN SỰ VÀ HIỆU QUẢ LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. Thực hành quản trị nhân sự Khái niệm 1. Khái niệm quản trị nhân sự Ban đầu, khái niệm quản trị nhân sự (HRM) của Hoa Kỳ biểu thị sự chú ý và tầm quan trọng dành cho từng công nhân hoặc nhân viên, nhu cầu của họ và coi chúng là tài sản thay vì chi phí (Wilkinson, 1990).
Mặc dù khái niệm này đã nhận được sự chấp nhận rộng rãi như các phương thức quản lý mới, nhưng nó vẫn chưa được xác định do các ứng dụng khác nhau của nó. Theo Tabouli, Habtoor, & Nashief S. (2016), có ba cách tiếp cận chính đối với HRM. Đầu tiên, HRM được coi là một chức danh mới cho quản lý nhân sự, cho thấy các tổ chức nên đổi tên bộ phận nhân sự của họ mà không phải thực hiện bất kỳ thay đổi nào đối với thực tiễn của họ.
Thứ hai, HRM được coi là khái niệm hóa công nhận vai trò nhân sự và mô tả công việc của bộ phận nhân sự. Thứ ba, HRM được xem là một cách tiếp cận hoàn toàn mới để quản lý theo cách đặc biệt và tích hợp nguồn nhân lực vào quản lý chiến lược. Do đó, cách tiếp cận thứ ba này đối với HRM nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả. Tóm lại, HRM đề cập đến một tập hợp các chính sách được phát triển với mục đích tối đa hóa hội nhập tổ chức, cam kết và chất lượng của nhân viên.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Okechukwu cho rằng: HRM và tổ chức công việc tượng trưng cho tầm quan trọng của việc giám sát các cá nhân trong tổ chức (Okechukwu, 2017). Như vậy, bài nghiên cứu sẽ sử dụng khái niệm thứ 3 của Tabouli et al. (2016) cho rằng: HRM đề cập đến một tập hợp các chính sách được phát triển với mục đích tối đa hóa hội nhập tổ chức, cam kết và chất lượng của nhân viên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm thực hành quản trị nhân sự Thực hành quản trị nhân sự (HRM) là một quá trình thu hút, thúc đẩy và giữ chân nhân viên để đảm bảo sự tồn tại của tổ chức (Hassan, 2016). Trong đó, thực hành quản trị nhân sự được thiết kế và thực hiện theo cách mà vốn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức đồng thời nếu sử dụng phù hợp các thực hành HRM ảnh hưởng tích cực đến mức độ cam kết của chủ doanh nghiệp và nhân viên. Thực hành quản trị nhân sự là tất cả các hành động hướng tới việc quản lý nguồn nhân lực và công việc của các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức mong muốn (Okechukwu, 2017). Như vậy, nghiên cứu sử dụng khái niệm thực hành quản trị nhân sự từ nghiên cứu của Hassan (2016) với nội dung: Thực hành quản trị nhân sự (HRM) là một quá trình thu hút, thúc đẩy và giữ chân nhân viên để đảm bảo sự tồn tại của tổ chức.
Các thành phần của thực hành quản trị nhân sự Các thực hành HRM như: đào tạo và phát triển, đánh giá hiệu quả khuyến khích nhân viên làm việc tốt hơn để tăng hiệu quả của tổ chức (Hassan, 2016). Việc đánh giá hiệu quả dựa trên thành tích làm tăng động lực và cam kết của nhân viên có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của tổ chức. Chìa khóa để tổ chức thành công liên quan đến sự sẵn lòng của nhân viên (Munjuri, 2011). Theo Singh & Kassa (2016), có một số thực hành quản trị nhân sự quan trọng cần hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh của tổ chức: phân tích công việc và thiết kế công việc, xác định cần bao nhiêu nhân viên có kiến thức và kỹ năng cụ thể (hoạch định nguồn nhân lực), thu hút nhân viên tiềm năng (tuyển dụng), chọn nhân viên (tuyển chọn), dạy nhân viên cách thực hiện công việc và chuẩn bị cho tương lai (đào tạo và phát triển), đánh giá hiệu quả của họ (quản lý hiệu quả), thưởng cho nhân viên (lương thưởng) và tạo môi trường làm việc tích cực (quan hệ nhân viên).
Một tổ chức thực hiện tốt nhất khi tất cả các thực hành này được quản lý tốt. Tại các công ty có thực hành HRM hiệu quả, nhân viên và khách hàng có xu hướng hài lòng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hơn và các công ty có xu hướng đổi mới hơn, có năng suất cao hơn và phát triển danh tiếng thuận lợi hơn trong cộng đồng. Hiệu quả làm việc của nhân viên Khái niệm hiệu quả làm việc Hiệu quả làm việc là một khái niệm đa chiều. Ở cấp độ cơ bản nhất, Sonnentag & Frese (2005) phân biệt giữa nhiệm vụ và hiệu quả theo ngữ cảnh.
Hoạt động của nhiệm vụ đề cập đến trình độ thành thạo của một cá nhân mà họ thực hiện các hoạt động đóng góp cho tổ chức. Đóng góp này có thể là cả trực tiếp (ví dụ: trong trường hợp công nhân sản xuất) hoặc gián tiếp (ví dụ: trong trường hợp người quản lý hoặc nhân viên). Hiệu quả làm việc của nhân viên chủ yếu là kết quả đạt được hay những thành tựu của người lao động tại nơi làm việc duy trì các chiến lược của tổ chức thông qua xác định các mục tiêu để đạt các kết quả dự kiến (Okechukwu, 2017). Một trong những yếu tố có thể đánh giá được là hiệu quả của nhân viên qua mức năng suất của họ.
Điều này bao gồm chất lượng, số lượng, kiến thức hoặc sự sáng tạo của cá nhân đối với các công việc đã hoàn thành phù hợp với trách nhiệm trong một khoảng thời gian xác định - nói cách khác, các hệ thống đánh giá phải có một số thông số tiêu chuẩn có thể dựa vào (Muda, Rafiki, & Harahap, 2014). Theo Patel, Messersmith, & Lepak (2013), để các tổ chức phát huy tối đa hiệu quả của họ trong các thị trường hiện tại trong khi vẫn duy trì sự tập trung vào việc tạo ra những đổi mới trong tương lai, nhân viên cần thực hiện nhiệm vụ nhất định và phải có hiệu quả. Đồng thời, nhân viên cần tìm kiếm, khám phá, thử nghiệm, chấp nhận rủi ro và đổi mới. Hiệu quả làm việc của nhân viên thường được xem xét về mặt kết quả.
Tuy nhiên, nó cũng có thể được xem xét về mặt hành vi (Armstrong, 1995). Kenney và cộng sự (1992) nói rằng hiệu quả làm việc của nhân viên được đo theo các tiêu chuẩn hiệu suất do tổ chức đặt ra. Có một số biện pháp có thể được xem xét khi đo lường hiệu suất, ví dụ như sử dụng các biện pháp năng suất, hiệu quả, chất lượng, lợi nhuận (Ahuja, 1992). Khả năng sinh lời là khả năng kiếm lợi nhuận một cách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhất quán trong một khoảng thời gian.
Nó được biểu thị bằng tỷ lệ lợi nhuận gộp so với doanh thu hoặc lợi nhuận trên vốn sử dụng (Wood & Stangster 2002). Hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn bằng cách sử dụng các nguồn lực tối thiểu nhất có thể trong khi hiệu quả là khả năng của nhân viên để đáp ứng các mục tiêu hoặc mục tiêu mong muốn (Stoner 1996). Hiệu quả được biểu thị bằng tỷ lệ đầu ra so với đầu vào (Stoner, Freeman và Gilbert, 1995). Nó là thước đo cách thức cá nhân, tổ chức và ngành chuyển đổi các nguồn lực đầu vào thành hàng hóa và dịch vụ.
Thước đo về sản lượng được sản xuất trên một đơn vị tài nguyên được sử dụng (Lipsey 1989). Chất lượng là đặc tính của các sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng đáp ứng các nhu cầu đã nêu (Kotler & Armstrong 2002). Như vậy, nghiên cứu sử dụng khái niệm hiệu quả làm việc của Okechukwu, (2017) với nội dung là: Hiệu quả làm việc của nhân viên chủ yếu là kết quả đạt được hay những thành tựu của người lao động tại nơi làm việc duy trì các chiến lược của tổ chức thông qua xác định các mục tiêu để đạt các kết quả dự kiến. Tầm quan trọng của thực hành quản trị nhân sự đối với hiệu quả làm việc của nhân viên Việc sử dụng thực hành HRM được quan sát ở cấp độ nhóm công việc đã chứng minh được có thể nhìn thấy trước cam kết tình cảm của nhân viên (Kehoe & Wright, 2013).
Theo Jouda, Ahmad, & Abed Dahleez (2016), công tác thực hành của HRM rất có giá trị đối với tổ chức để thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của người lao động và tăng cường cam kết giữa họ với tổ chức. Hơn nữa, bằng cách triển khai thực hành HRM một cách hiệu quả sẽ gia tăng động lực, giữ chân nhân viên nhằm nâng cao hiệu suất ở cấp độ cá nhân và tổ chức. Hiệu quả của nhân viên được liên kết trực tiếp với hiệu quả của tổ chức. Các tổ chức thành công coi thực hành HRM là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của nhân viên (Hassan, 2016).
Jouda et al. (2016) cho rằng các hoạt động quản trị nhân sự khác nhau giữa các công ty và từ quốc gia này sang quốc gia khác cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 thực hành HRM. Các yếu tố này có thể là nội bộ (ví dụ: quy mô tổ chức, cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh, văn hóa tổ chức) hoặc các yếu tố bên ngoài (thay đổi kinh tế, công nghệ, đặc điểm ngành, văn hóa quốc gia, hợp pháp hóa và quy định, đối thủ cạnh tranh và toàn cầu hóa). Các thực hành HRM này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến một số biến trong tổ chức.
Keir (2016) cho rằng, khi nghiên cứu ảnh hưởng của các khía cạnh khác nhau của thực hành quản trị nhân sự đối với hiệu suất của nhân viên, cần phải kiểm tra cả hai khía cạnh của hiệu suất của nhân viên: hiệu suất công việc trong vai trò và hiệu suất công việc sáng tạo. Các tổ chức cần tìm sự cân bằng chính xác giữa việc sử dụng các quy tắc và quy trình để làm cho hiệu suất của nhân viên có thể dự đoán được (tức là hiệu suất công việc trong vai trò) trong khi cho phép nhân viên tự do đổi mới để thích nghi với các thách thức và tình huống không điển hình (ví dụ như hiệu suất công việc sáng tạo) (Keir, 2016).