Nghiên cứu giải pháp ưu tiên cho quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển Hải Phòng

Luận án tiến sĩ đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển Hải Phòng, hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tài nguyên ven biển Hải Phòng

Vùng ven biển Hải Phòng là một trong những khu vực có tài nguyên phong phú và đa dạng. Tài nguyên ven biển bao gồm các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, cỏ biển, và các nguồn tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Việc quản lý tài nguyên ven biển cần được thực hiện một cách tổng hợp và bền vững để đảm bảo sự phát triển lâu dài cho khu vực này. Theo các nghiên cứu, việc áp dụng các giải pháp quản lý tổng hợp sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. "Chúng ta cần một chiến lược rõ ràng để bảo vệ và phát triển tài nguyên ven biển, không chỉ cho hiện tại mà còn cho các thế hệ tương lai."

1.1. Tình hình hiện tại của tài nguyên ven biển

Tình hình hiện tại của tài nguyên ven biển Hải Phòng đang gặp nhiều thách thức. Các hoạt động khai thác hải sản không bền vững, ô nhiễm từ các khu công nghiệp và đô thị hóa nhanh chóng đã làm suy giảm chất lượng môi trường. Theo báo cáo, lượng hải sản đánh bắt ngày càng giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ lại tăng cao. Điều này dẫn đến việc cần thiết phải có các chính sách bảo vệ môi trườngquản lý tài nguyên hiệu quả hơn. "Chúng ta không thể tiếp tục khai thác tài nguyên mà không có kế hoạch bảo vệ môi trường. Đây là một bài toán khó nhưng cần thiết."

II. Định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên ven biển

Định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên ven biển Hải Phòng cần phải dựa trên các nguyên tắc phát triển bền vững. Việc phân vùng chức năng là một trong những giải pháp quan trọng để xác định rõ ràng các khu vực cần được bảo vệ và phát triển. Các chính sách quy hoạch ven biển cần phải được thực hiện đồng bộ, kết hợp giữa các ngành và các cấp chính quyền. "Chỉ khi nào chúng ta có một cái nhìn tổng thể về tài nguyên ven biển, chúng ta mới có thể đưa ra các quyết định đúng đắn cho sự phát triển bền vững."

2.1. Các giải pháp ưu tiên trong quản lý

Các giải pháp ưu tiên trong quản lý tổng hợp tài nguyên ven biển bao gồm việc tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển các mô hình kinh tế bền vững và nâng cao nhận thức cộng đồng. Cần có sự tham gia của các bên liên quan trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách. "Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định cho sự thành công của các giải pháp quản lý tài nguyên."

III. Đánh giá tác động môi trường và kinh tế

Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế đến môi trườngtài nguyên thiên nhiên là rất cần thiết. Các nghiên cứu cho thấy rằng sự phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trường sẽ dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng. Việc áp dụng các phương pháp đánh giá tác động môi trường sẽ giúp nhận diện sớm các vấn đề và đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời. "Chúng ta cần phải nhìn nhận rằng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường không phải là hai khái niệm đối lập, mà là hai mặt của một vấn đề lớn hơn."

3.1. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên ven biển Hải Phòng. Mực nước biển dâng cao, thời tiết cực đoan và các hiện tượng thiên tai ngày càng gia tăng đã làm gia tăng áp lực lên các hệ sinh thái ven biển. Cần có các biện pháp ứng phó kịp thời để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. "Chúng ta không thể ngồi yên và chờ đợi biến đổi khí hậu xảy ra, mà phải chủ động tìm kiếm các giải pháp thích ứng."

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Phân vùng chức năng lãnh thổ khu vực ven biển Hải Phòng Chƣơng 3. Định hƣớng không gian quản lý tổng tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng. 7 luan an CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.

Một số khái niệm liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu 1. Tổng quan các khái niệm liên quan đến không gian quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển - Không gian khu vực ven biển: Trên quan điểm nghiên cứu khoa học, khu vực ven biển nằm trong đới bờ biển (coastal zone), đƣợc xác định trong đề tài KC.09- 27/06-10 [10] là “Các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển (đại dƣơng), luôn chịu tƣơng tác giữa quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng biển và thuỷ triều), giữa các hệ thống tự nhiên và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con ngƣời), giữa các ngành và những ngƣời sử dụng tài nguyên vùng ven bờ biển (hoặc tài nguyên bờ - coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (phối hợp từ trung ƣơng xuống địa phƣơng) và cả cấu trúc ngang (phối hợp của các ngành trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phƣơng với các thành phần kinh tế khác. Vì thế, miền bờ/vùng ven biển còn đƣợc gọi là miền tƣơng tác, nhƣng trong thực tiễn quản lý vùng ven biển ngƣời ta thƣờng rất ít quan tâm đến mối quan hệ bản chất này”. Trên thực tế, ranh giới giữa đất và đại dƣơng nói chung hông phải là một đƣờng xác định rõ ràng trên bản đồ mà là một khu vực - một vùng chuyển tiếp dần dần, thƣờng đƣợc gọi là “vùng ven biển” hoặc “ hu vực ven biển” [59].

Theo tính chất lý sinh, bờ biển là nơi gặp gỡ của đất và đại dƣơng, hông có bộ phận nào thuộc môi trƣờng ven biển mà lại có tƣơng tác mạnh giữa đất và đại dƣơng, bao gồm cả những bãi biển, đầm lầy ven biển, rừng ngập mặn (RNM) và ven các rạn san hô; Các bộ phận khác có thể có tác động đến vùng ven biển nhƣng lùi xa hơn từ bờ biển vào lục địa, có thể đến thƣợng nguồn các lƣu vực sông, nhƣng khu vực ven biển xác định là nơi hội tụ của vùng đất khô và liền kề biển không gian (nƣớc và đất ngập nƣớc) trong đó, các quá trình trên lục địa và đất đang sử dụng ảnh hƣởng trực tiếp đến các quá trình đại dƣơng và ngƣợc lại (Ketchum 1972)[50]. Không gian đất liền ven biển đƣợc tổng hợp tài nguyên theo quy định pháp lý và kết quả nghiên cứu của các đề tài các cấp đƣợc tổng hợp [50] trong quy định của Nghị định 161/2003/NĐ-CP và theo Điều 8, Nghị định 40/2016/NĐ-CP ngày 15/05/2016 của Thủ tƣớng Chính phủ về “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, Môi trƣờng biển và Hải đảo” bao gồm gồm các xã ven biển, các xã không có bờ biển nhƣng chịu ảnh hƣởng từ biển [36]. Trong luận án là các xã thuộc các quận/huyện chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ biển và có các hoạt động phát triển liên quan đến không gian và tài nguyên biển. 8 luan an - Quản lý tổng hợp tài nguyên và không gian quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển: + Quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển Theo điều 3, bộ luật số 82/2015/QH13 [19]: Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo là việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để đảm bảo tài nguyên biển, hải đảo đƣợc khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của HST nhằm PTBV, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Theo khoản 1, điều 3 thông tƣ số 49/ BTN&MT [35], quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ là việc hoạch định và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên vùng bờ đƣợc khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của các HST vùng bờ nhằm phát triển bền vững, góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh. + Không gian quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển: Không gian quản lý tài nguyên là không gian chứa đựng toàn bộ các loại tài nguyên có trong không gian đó. Theo quy định của Luật Tài nguyên, Môi trƣờng biển và Hải đảo và Nghị định số 40/2016/NĐ-CP [37] thì vùng bờ là khu vực chuyển tiếp giữa đất liền hoặc đảo với biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển. Vùng biển ven bờ có ranh giới trong là đƣờng m p nƣớc biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm (18,6 năm) và ranh giới ngoài cách đƣờng m p nƣớc biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm một khoảng cách 06 hải lý do BTN&MT xác định và công bố.

Vùng đất ven biển bao gồm các xã, phƣờng, thị trấn có biển. Trong không gian này, các HST, nguồn lực và hoạt động của con ngƣời trong khu vực là rất quan trọng, đặc biệt là hoạt động quản lý, nhƣng những hoạt động này thƣờng làm phá vỡ các hệ thống tự nhiên ven biển. Thêm vào sự phức tạp của các đƣờng địa giới hành chính đƣợc sử dụng tùy tiện để phân chia các khu vực, thƣờng dẫn đến sự phân tán trong công tác quản lý tài nguyên. Do đó, quản lý các nguồn tài 9 luan an nguyên thiên nhiên, điều trƣớc nhất là phải biết đƣợc trong hông gian đó có những nguồn tài nguyên thiên nhiên gì để quản lý và phải định giá đƣợc giá trị của nguồn tài nguyên đó là bao nhiêu.

Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (EU)[45] quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên là quản lý tổng hợp hông gian (space) mà trong đó chứa đựng tất cả các nguồn tài nguyên nguyên liệu thô (raw materials), nguồn tài nguyên dòng (flow resources), nguồn tài nguyên chất liệu môi trƣờng (environmental media) trên cùng một không gian (space) đó, các nguồn tài nguyên này đƣợc đánh giá inh tế theo từng loại tài nguyên và đƣợc tích hợp bằng tổng giá trị kinh tế (TEV) tài nguyên theo các không gian (space) lãnh thổ riêng biệt. - Quy hoạch không gian khu vực ven biển Tổng quát chung, theo Chu Phạm Ngọc Hiển [14] quản lý tổng hợp biển theo không gian và quy hoạch không gian biển đang còn là những vấn đề mới mẻ đối với không chỉ các nhà quản lý và hoạch định chính sách, mà còn đối với ngay cả các nhà khoa học và quy hoạch ở Việt Nam. Trong Hội thảo về Quy hoạch không gian biển (QHKGB), Charles N. Ehler (Ehler & Douvere 2007)[6] đƣa ra một định nghĩa của Ủy ban Hải dƣơng học Liên Chính phủ của UNESCO đƣợc sử dụng nhiều nhất cho QHKGB là: “QHKGB là một quá trình phân tích và phân bổ các phần của không gian biển ba chiều cho các mục đích sử dụng cụ thể, để đạt đƣợc các mục tiêu sinh thái, kinh tế và xã hội thƣờng đƣợc xác định thông qua tiến trình chính trị; kết quả của quá trình QHKGB thƣờng là một kế hoạch tổng thể toàn diện cho một vùng biển.

QHKGB là một phần của quản lý sử dụng biển”. Sau đó, năm 2009 định nghĩa: “Quy hoạch không gian biển là một quá trình phân tích và phân bổ (do cơ quan nhà nƣớc thực hiện) các hoạt động của con ngƣời theo không gian và thời gian ở các vùng biển nhất định để đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và sinh thái mà thƣờng do các nhà chính trị xác định”. Quy hoạch không gian khu vực ven biển theo Nguyễn Hữu Cử (2013)[5] có nội hàm khá rõ vì tiếp cận quản lý tổng hợp ven biển (QLTHVB) ở Việt Nam đã có lịch sử gần 20 năm trải nghiệm, mặc dù chƣa có một định nghĩa “chuẩn”, nhƣng đƣợc xem là một công cụ cho phép tổng hợp, dự báo và ra quyết định phù hợp đối với việc sử dụng biển với đặc điểm cơ bản là tiếp cận trên cơ sở: HST, khu vực (lãnh thổ), tổng hợp, thích ứng, chiến lƣợc và sự tham gia của cộng đồng. Quy hoạch không gian khu vực ven biển không phải là sự kết thúc quy hoạch, mà là phƣơng thức thực tế để tạo dựng và thiết lập việc sử dụng hợp lý hơn hông gian biển và tƣơng tác giữa chúng để cân bằng nhu cầu phát triển với nhu cầu BVMT và nhằm đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế và xã hội theo quy hoạch.

10 luan an Theo tài liệu của Cục Thông tin KH&CN quốc gia [4], QHKGB đƣợc Liên minh châu Âu (EU) và Hoa Kỳ áp dụng đầu tiên, trong đó Hoa Kỳ có định nghĩa bổ sung thêm cả phần quy hoạch không gian vùng bờ biển (gọi tắt là vùng bờ) - nơi QHKGB đƣợc áp dụng kết hợp với quy hoạch sử dụng đất (land-use planning) đối với phần lục địa ven biển. Cho nên, thuật ngữ QHKGB cũng bao hàm cả quy hoạch không gian vùng bờ (coastal spatial planning) hi nó đƣợc áp dụng ở vùng bờ để tránh dùng thuật ngữ dài dòng. Nhƣng ở Việt Nam mới chỉ lập kế hoạch và quản lý các hoạt động của con ngƣời trong các vùng biển, chứ không phải là quản lý các HST biển hoặc các thành phần của chúng. Theo Cơ quan quản lý khí quyển và đại dƣơng Hoa Kỳ (NOAA) (2009) [54] thì quy hoạch không gian biển là một quá trình quy hoạch không gian toàn diện, tích hợp, có tính minh bạch, có tính thích nghi, dựa trên quan điểm về HST, dựa trên tính khoa học nhằm mục đích phân tích hiện trạng và dự báo tƣơng lai đối với việc sử dụng, khai thác biển, đại dƣơng.

Theo đó sẽ xác định khu vực thích hợp nhất đối với những dạng hoạt động khác nhau nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trƣờng, thuận tiện trong việc sử dụng, khai thác, tăng tính hiệu quả về kinh tế - xã hội và an ninh. Đôi hi còn đƣợc hiểu là các hoạt động kinh tế biển vùng (đới) ven bờ hay khu vực ven biển. Tổng quan các khái niệm liên quan đến phân vùng và phân vùng chức năng - Phân vùng không gian biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu giải pháp ưu tiên cho quản lý tổng hợp tài nguyên khu vực ven biển Hải Phòng" của tác giả Trần Hữu Long, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm và PGS.TS Nguyễn An Thịnh, tập trung vào việc phát triển các giải pháp quản lý tài nguyên bền vững cho khu vực ven biển Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của tài nguyên ven biển mà còn đề xuất các phương pháp quản lý hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức quản lý tài nguyên, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các khu vực tương tự.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên và đô thị hóa, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Tác động của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển, nơi phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế, và Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, bài viết này cung cấp cái nhìn về tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên và phát triển bền vững.