CHƯƠNG 1: TONG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUAN LÝ DỰ ÁN DAU TƯ 'XÂY DỰNG ĐÊ DIEU 1.1 Tổng quan về hệ thắng Đê điều ở Việt Nam “Theo Giao Châu Ký của Trung Hoa, thì khoảng 3 thé kỷ trước công nguyên ở Giao “Châu đã có để lớn “Ở huyện Phong Khê có để bảo vệ nước lĩ tử Long Môn" (Sông Đà bây giờ), Theo Hán Thư thi "Miệt tây bắc Long Biên đức Hà Nội) có để chẳng giữ nước lũ tt sông” “rong sách lịch sử Việt Nam, dé được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm 521 dưới thời Lý Bí (tức Lý Bôn). Tuy nhiên, người có công và được nhắc nhở nhất là Cao Bi gta thể ky thứ 9: "Sử chép rằng Cao Biển dio sông. khơi ngồi, mỡ đường lộ. lập quần trọ cho khách đi đường trên khắp An Nam.
Nhiều đoạn để, nhất là đoạn để trên vùng gin Hà Nội hiện nay được dip để chống lạt lội”. Cao Biển ra lệnh lập dé quanh thành Dại La với tổng sổ chiều di 8,500 thước, cao thước. BE Cơ Xá là con dé đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dựng vào thắng 3 năm Mau Tý. Nhà vua ra lệnh dip để trên sông Như Nguyệt (Sông Ci bây giờ) đài 30 km Dưới đồi nhà Trần, những con để được dip chỉ cốt giữ cho nước lũ không tràn vào jp làm vụ lúa chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thi nước được tự do trin vào đồng ruộng.
Thing 3 năm Mậu Than (1248), vua Trin Thái” ng sai quan ở các lộ dip dé ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biễn, gọi là Dinh Nhỉ ‘BE hay BE Quai Vac. Lại đặt quan để coi việc để, gọi là Hà Đê chánh phó sứ hai viên. Hễ chỗ nào mà dé đắp vào ruộng của dân, thi nh nước cứ chiếu theo giá ruộng mà bồi thường cho chủ ruộng. Mỗi năm sau vụ mùa, tiểu định côn ra lệnh cho quân si dip đề hay đào ạch, hảo, giúp đỡ dan chúng.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: “Tin Mão, Kiến Trung năm thứ 7 (1231): Mùa xuân, tháng giêng. si nội minh tự Nguyễn Bang “Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trim và kênh Hào, à tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay lả Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ Thanh. Hóa đến địa iới phía nam DiỄn Châu”. Tu đình cũng cho phép các vương.
hầu có “quyển chiêu tập những người nghèo khó, ưu lạc di khai khẩn đắt hoang để mở mang thêm mộng nương. Có thé néi rằng hệ thing dé sông Hồng được hoàn chỉnh dưới thời ‘vua Trần Thái Tông, cách nay hơn 750 năm. “Thiết lập đề biển được ghi trong lịch sử đầu tin là vào cuốt nhà Trin, Hồ Quý Ly cải tổ lại điền địa "Khi trước những nhà tôn thất cứ sai đầy tớ ra chỗ đắt bồi ở ngoài bễ, ‘ip d để một vài năm cho hết nước mặn, rồi khai khẩn thành ruộng. Nay ngoại trừ bậc đại vương, công chúa ra, thứ din không được có hơn 10 mẫu”.
Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đặt ra quan “Hà Để" để lo để điều và quan Khuyến Nong d& phát iển nông nghiệp. Dưới triều Lê sơ (1428-1527) những con dé lớn hơn cược đắp mới, và tân tạo hệ thống đề cũ trên hai bờ sông Nhị Hà bằng đã vừng chi Kết quả tái ngược là sông Hồng trở nên hung dữ hơn, phá vỡ để và gây ngập lụt triển miễn tong thời nhà Nguyễn, này sinh nhiễu ý kiến để nghị xem xét vấn để bỏ hay giữ để Gi giã thường xuyên xảy ra trong thời Lê, Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, đ điều bị bur bại nhiều, mii ới thôi Vus Gia Long (1802-1520), vua truyền cho các quan ở các trấn phải “xoi dio sông ngòi và các cửa bể, và nhất là ở Bắc Thành phải giữ gìn đề điều cho cin thận: chỗ nao không có thi đắp thêm, chỗ nào hư hỏng thì phải sửa chửa lạ, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đã có công khẩn hoang vùng duyên hai Ninh Bình, Nam Định, Hai Dương. Ông đi kinh lý khắp bai bồi vùng duyên hai, tự về bản đồ, phân phát trâu bd, nông cụ cho din dé khẩn hoang. Chỉ trong 2 năm (1828 - 1829), Ong lập 1a 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) cùng bai tổng Hoàng Tha và Minh Nhất (ven bở biển Thái Binh, Ninh Bình), khai khẩn tổng cộng cược 37/770 ha dit.
Day là vùng đắt bồi, hàng năm tốc độ phù sa bồi tụ tiến ra biễ từ 80- 100 m, Từ đó, cit sau 20-30 năm, để biển mới được xây đắp kin ra biển. Đến nay, 178 năm sau, Kim Sơn đã tiến hành quai dé lắn biển sáu lần, tiến ra biển hơn 500 n nhờ vậy điện tích hiện nay gắp gần 3 kin so với khi mới thành lập Ngoài ra, từ trước năm 1837, Nguyễn Công Trứ đã để xuất giải pháp phân lũ bằng. sách khai dio đoạn khối đầu sông Dung (ức sông Thiên Đức thời bygiờ) nỗi với sông Hồng ở phía thượng lưu để chuyển nhận nước từ sông Hồng giải ta áp lực lũ ở vũng Hà Nội. Nhưng phải ng thời Tự Đức ý tưởng đó mới được thực hiện một phần.
và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc. Từ đó, sông Budng trở thành đường, thoát lũ quan trong nhất của sông Hồng. Hệ thống dé sông và để biển được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp đồ hộ và sau này Tinh đến nay (2006). hệ thống để sông Hồng khu vực quanh Hà Nội được năng cấp tương đối hoàn chỉnh, dài tổng cộng khoảng 60 km.
Dự án này thực hiện từ năm 1996, kết thúc năm 2002, nhờ nguồn vốn vay cia ngân hàng ADB. Một số đoạn dé khác đã có đường hảnh lang hai bên thân dé, mặt đê được cứng hóa bằng nhựa hoặc bê tông. “Trong suốt tiến trìnhphát triển của lịch sử, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ớ Việt [Nam luôn được coi là cuộc đấu tranh sinh tồn, gắn liỄn với quá tình dựng nước và giữ nước của din tộc, Công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam đã có những bước tiễn vượt bộc theo tiền tình lịch sử. Năm 1945, trên cá nước cổ hơn 3.000 km dé các loại.
Đến nay, trên cả nước đã có 8.000 km đê các loại trong 46 hơn 5.000 km để sông, gin 3. Ngoài ra cồn hàng ngàn km bở bao chống lũ, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương. Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện được xây dựng đã đóng góp rit lớn trong việc ng mức dim bảo cl ig lũ ở Hà Nội lên 500 năm. Hệ thống công tình thủy lợi kết hợp kiểm soát lũ khu vue đồng bằng sông Cửu Long đã g6p phin đảm bảo ổn định sản xuất tờ 2 đến 3 vụ lúa.
Hệ hông sim, tuyển dần cư vượt là góp phần ổn định chỗ , dm bảo an toàn nhân dân vùng ngập lũ. Tô chức quản lý nhà nước về dé điều cũng từng bước hình thành, củng cí phát triển từ Ì phòng để điều thuộc Nha Công chính. Bộ Giao thông Công chính năm 1945 đến nay đã hình thành Cục Phòng, chống thiên ti, Vụ Để điều trực thuộc Tổng ‘ve Thủy lợi, Bộ NN-PTNT và hệ thông ngành dọc tại địa phương. Cơ quan điều phối hoạt động hộ đẻ, phòng chống lụ, bão cũng được hình thành phát triển từ Ủy ban “Trung ương hộ dé năm 1946, đến nay là Ban chỉ đạo Trung ương vẻ phòng chống.
thiên tai do Bộ trường Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm trưởng ban. Văn bản pháp luật cũng được rà soát, điều chỉnh. nâng cấp phù hợp với điều kiện thực tế từng thời kỳ từ những quy định tạm thời vé công tác dp đê những năm đầu thành lập nước, Diễu lệ bảo vệ để điều năm 1963, đến nay đã ban hành Luật Dé điều, Luật Phòng. ng thiên tai và các văn bản hướng dẫn thi hành luật.
Dinh hướng chỉ lược được điều chinh phù hợp vớ từng thời kỳ nh tăng cường quản lý để, hộ đề, chống việc phá hoại dé điều trong chiến tranh thời kỳ 1945 - 1954 và 1965 - 1975. Tăng cường trị thủy và khai thác sông Hồng thời kỳ 1955 ~ 1965, ting cường phòng chẳng bão, củng cổ để sông, phát triển dé biển, dé bao chống lũ sớm đầu vụ thời kỳ 1975— 1985, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hop tác quốc tế, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thời kỳ 1986 - 2007, từ 2007 đến nay chuyển din tử việc tập trung thực hiện giải pháp công tinh sang việc kết hợp giải pháp phi công trình. Năm 2015, tiếp tục rà soát chiến lược theo hướng quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp. Quy hoạch phòng chống 10 được điều chỉnh theo từng thời kỳ năng mức đảm bảo chống lũ với lưu lượng lớn nhất tại Sơn Tây là 32.500 mô/s (tương ứng với trận lũ tháng 8/1945) lên mức 37.500 m3/s giai đoạn 2010 ~ 2030 (tương ứng với lũ có chu kỳ lặp lại $00 năm), La lục ở Yên Bái Giải pháp phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng được bé sung, hoàn chính din theo từng thời kỷ: năm 1964 xác định 4 biện pháp cơ bản, năm 1972 xác định 6 biện pháp cơ bản, Năm 2007 bổ sung và điều chỉnh thành 8 biện pháp cơ' bản, Năm 2011, di u chính bỏ các khu phân chậm lũ thuộchệ thống sông Hồng.
Hợp tác quốc tế được dy mạnh, Vệ Nam đã kỹ kết và tích cực tham gia tham gia Khung hình động Hyogo, Sendai, Hiệp định ASEAN v8 giảm nhẹ và ứng phó thảm họa, Uy ban bio. Tăng cường hợp tác và tiễn kha các dự án do các tổ chức các tổ chức quốc 1É tổ chức phi chính phủ tài trợ. Tình hình tiến độ th công các công trình xây dựng hiện nay 1.1 Thực trạng tién độ thi công các công trình xây dựng: Do tác động của cuộc khủng hoàng kinh tế toàn „ năm 2009 là năm hết sức khó khăn, trong đó lĩnh vực đầu tư xây đựng, nhất là các dự án xây dựng trong diém quốc gia trực tiếp chịu nhiều ảnh hưởng. Tuy nhiên mức tăng trường của toàn ngành xây cdựng năm 2009 vẫn đạt 12,4%, đồng gốp không nhỏ vào việc duy trì mức tăng trưởng hợp lý 5.