CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VÓN ODA • 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VÓN ODA 1.1 Khái niệm nguồn vốn ODA ODA là tên gọi tắt của: Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Để hiểu được chính xác và toàn diện về bản chất của nguồn vốn ODA và sử dụng nó có hiệu quả, cần phải nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của nguồn vốn ODA. Sau đại chiến thế giới thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiệm ưu đãi cho các nước đang phát triển. Bắt đầu từ kế hoạch Masan của Mỹ viện trợ cho các nước Tây Âu nhằm khôi phục kinh tế sau chiến tranh Thế Giới thứ II.
Tiếp theo đó ngày 14 tháng 12 năm 1960 tại Pari các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD). Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp nguồn vốn ODA song phương cũng như đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Khái niệm nguồn vốn ODA được Ủy ban viện trợ (DAC) của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đưa ra lần đầu tiên vào năm 1969.
Về thực chất, nguồn vốn ODA là một phần thu nhập quốc gia từ các nước phát triển chuyển giao sang các nước đang và chậm phát triển. Từ năm 1970 Liên Hiệp quốc yêu cầu các nước phát triển dành ít nhất 0.7% GDP của nước mình để tạo nguồn vốn viện trợ cho các nước nghèo. Đến năm 1990 tỷ lệ nguồn vốn ODA/GNI là 0.33% và tới năm 2005 tỷ lệ này cũng là 0. Nguồn vốn ODA thể hiện mối quan hệ quốc tế giữa các nước phát triển và một bên là các nước đang phát triển thông qua các khoản 4 viện trợ không hoàn lại và các khoản vốn cho vay ưu đãi.
Năm 1972, DAC đưa ra một định nghĩa nguồn vốn ODA đầy đủ hơn, theo định nghĩa này thì nguồn vốn ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản viện trợ có hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Chính phủ và nhân dân các nước đang và chậm phát triển. Nguồn vốn chuyển giao phải thỏa mãn: (1) Mục đích chính của nguồn vốn là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế và phúc lợi của nước đang phát triển; (2)Yếu tố không hoàn lại trong khoản cho vay ưu đãi chiếm ít nhất 25% trong tổng vốn viện trợ. Tại Việt Nam, theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển được ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ Việt Nam thì nguồn vốn ODA là nguồn vốn được chuyển giao trong hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ. Tóm lại, theo các khái niệm và định nghĩa trên đều thống nhất là nguồn vốn hỗ trợ chính thức là khoản vốn vay ưu đãi từ các cơ quan chính thức bên ngoài hỗ trợ cho các nước đang phát triển để tạo điều kiện các nước này phát triển kinh tế xã hội.
Các khoản vốn vay ưu đãi đảm bảo yếu tố không hoàn lại chiếm ít nhất 25% tổng giá trị khoản vay.2 Phân loại nguồn vốn ODA 1.1 Phân loại theo hình thức cấp Nguồn vốn ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp nguồn vốn ODA mà nước nhận viện trợ không phải hoàn trả vốn và lãi cho bên viện trợ. Nguồn vốn ODA có hoàn lại: Là khoản vốn vay ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ; đảm bảo yếu tố không hoàn lại của khoản vay tối thiểu phải là 25% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay không ràng buộc và 35% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay có ràng buộc. 5 Nguồn vốn ODA hỗn hợp: Là khoản vốn ODA kết hợp một phần vốn không hoàn lại với một phần vốn vay có hoàn lại theo các điều kiện của OECD.2 Phân loại theo nguồn cấp Nguồn vốn ODA song phương: là khoản vốn tài trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ. Nguồn vốn ODA đa phương: là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức của các định chế tài chính quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
hoặc các tổ chức quốc tế và liên minh quốc gia như: Tổ chức Nông nghiệp và lương thực (FAO), Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO), Quỹ môi Trường Toàn Cầu (GEF). dành cho một nước, hoặc nguồn vốn hỗ trợ của một Chính phủ nào đó dành cho một Chính phủ khác thông qua một tổ chức đa phương trên thế giới. Nguồn vốn ODA của các tổ chức phi chính phủ (NGOs): Là nguồn vốn ODA do các tổ chức phi chính phủ cung cấp. Các tổ chức phi Chính phủ hoạt động chủ yếu mang tính nhân đạo và viện trợ thường là dạng không hoàn lại.3 Phân loại theo loại hình hỗ trợ Cứu trợ và viện trợ khẩn cấp: là việc cung cấp nguồn lực cứu trợ khẩn cấp để giảm nhẹ tác động và nâng cao mức sống cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai hay thảm họa do con người gây ra.
Hỗ trợ lương thực: là hình thức cung cấp lương thực cho các nước nghèo để tiêu dùng theo các Chương trình quốc gia và quốc tế với mục tiêu phát triển, bao gồm viện trợ không hoàn lại và khoản vốn hỗ trợ cho vay ưu đãi. Hỗ trợ hợp tác kỹ thuật độc lập: là hoạt động cung cấp nguồn lực với mục tiêu chuyển giao công nghệ và năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất và bí quyết công nghệ cho các nước đang phát triển theo các mục tiêu tăng cường năng lực tiến hành các hoạt động phát triển, không liên quan đến việc thực hiện một dự án đầu tư cụ thể nào. 6 Hỗ trợ ngân sách, chương trình hoặc hỗ trợ cán cân thanh toán: Hỗ trợ cho các chương trình phát triển mở rộng và theo các mục tiêu kinh tế vĩ mô, với mục đích cụ thể hỗ trợ cán cân thanh toán và cung cấp dự trữ ngoại tệ cho nước tiếp nhận. Hỗ trợ dự án: là hình thức hỗ trợ tài chính bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho các nước đang phát triển theo các dự án cụ thể.
Viện trợ thường bao gồm những dự án tăng cường hoặc nâng cao nguồn vốn vật chất của nước tiếp nhận.4 Phân loại theo mục đích sử dụng Nguồn vốn đầu tư cho phát triển: Do chính phủ các nước nhận vốn trực tiếp tổ chức đầu tư, quản lý, chịu trách nhiệm. Các dự án của nhóm này thường là trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp hoặc các lĩnh vực công trình mũi nhọn của quốc gia. Nguồn vốn viện trợ kỹ thuật: Hỗ trợ để đào tạo chuyên gia, nâng cao năng lực tổ chức. Nguồn vốn viện trợ nhân đạo, cứu trợ: Chi cho mục đích cứu trợ đột xuất, cứu đói, khắc phục thiên tai, chiến tranh, thường là từ các tổ chức phi chính phủ.
Viện trợ quân sự: Chủ yếu là viện trợ song phương cho các nước đồng minh trong thời kỳ chiến tranh lạnh.5 Phân loại theo điều kiện để nhận nguồn vốn ODA Nguồn vốn ODA không rằng buộc: Đây là nguồn vốn ODA mà việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. Nguồn vốn ODA có rằng buộc: Là nguồn vốn ODA bị rằng buộc bởi nguồn sử dụng: Việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vồn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của nước thành viên (đối với viện trợ đa phương). Hoặc bởi mục đích sử dụng: Đây là nguồn vốn ODA chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể. 7 Nguồn vốn ODA có thể ràng buộc một phần: Đây là nguồn vốn ODA mà chỉ một phần nguồn vốn ODA bị rằng buộc ở nước sử dụng, phần còn lại ở bất cứ nơi nào.3 Đặc điểm nguốn vốn ODA Nguồn vốn ODA có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, nguồn vốn ODA mang tính ưu đãi.
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, nguồn vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA thể hiện ở các đặc điểm sau: Một là: Chỉ các nước đang và chậm phát triển mới nhận được nguồn vốn ODA. Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được nguồn vốn ODA là: Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp. Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của nguồn vốn ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp, thời hạn ưu đãi càng nhiều.
Khi nào đạt được trình độ phát triển ổn định thoát khỏi ngưỡng giới hạn tài trợ thì sự ưu đãi này sẽ giảm đi. Điều kiện thứ hai là: Mục tiêu sử dụng nguồn vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp nguồn vốn ODA và bên nhận nguồn vốn ODA. Các nước cung cấp nguồn vốn ODA thường có những chính sách ưu tiên và đối tượng ưu tiên riêng tùy từng giai đoạn cụ thể hoặc tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng về kỹ thuật và tư vấn. Hai là: Khối lượng vốn vay ODA lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD.
Ba là: Nguồn vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc).