MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là mục tiêu quan trọng của ngành Lâm nghiệp trong giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu của Việt Nam về phát triển bền vững, các nỗ lực giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là mục tiêu đạt phát thải thuần bằng 0 vào năm 2050. Hệ thống chứng chỉ rừng Quốc gia hướng đến nâng cao giá trị gia tăng của rừng thông qua áp dụng giống cây trồng ưu việt và các kỹ thuật quản lý rừng phù hợp, cải thiện và nâng cao dịch vụ hệ sinh thái và bảo vệ đa dạng sinh học; đảm bảo nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp đáp ứng các yêu cầu chứng nhận của thị trường. Hiện nay Việt Nam đã xây dựng hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc hoạt động và ra quyết định độc lập giữa các bên tham gia, đảm bảo phù hợp với yêu cầu của Hệ thống chứng chỉ rừng quốc tế.
Bộ tiêu chuẩn này ngoài 7 nguyên tắc, 34 tiêu chí và 122 chỉ số, còn hướng dẫn việc thiết lập và hình thành các nhóm hộ hoặc nhóm liên kết đảm bảo phù hợp với các quy định hiện hành của nhà nước và hướng dẫn của PEFC để làm căn cứ đánh giá và cấp CCR cho các đơn vị QLR trong cả nước (VFCS ST 1003:2019). FSC có mặt tại hơn 50 quốc gia với hơn 850 thành viên là các tổ chức phi chính phủ, các trung tâm nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp, bộ tiêu chuẩn này hiện đang được áp dụng tại Việt Nam áp dụng cho tất cả các loại rừng bao gồm: rừng tự nhiên, rừng trồng, và rừng quy mô nhỏ quản lý cường độ thấp (SLIMFs) với 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 207 chỉ số. Huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn là huyện miền núi có nguồn tài nguyên rừng phong phú với thế mạnh về lâm nghiệp, diện tích rừng lớn, theo thống 1 kê trên toàn huyện, đất lâm nghiệp của huyện là 94.145,92 ha chiếm trên 89% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện (Đất rừng sản xuất 84.198,64 ha; đất rừng phòng hộ 9. Đây là tiềm năng thuận lợi để phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là các chương trình trồng rừng và chế biến lâm sản theo hướng sản xuất hàng hóa.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Bình Gia trong thời gian qua đã được các cấp từ Trung ương đến địa phương đặc biệt quan tâm, chính vì vậy đã đạt được những kết quả nhất định. Song do nhiều nguyên nhân khác nhau như: địa hình phức tạp, địa bàn rộng, lực lượng mỏng, đời sống khó khăn, nhận thức của người dân về vấn đề này còn chưa cao nên công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cũng gặp không ít khó khăn, tài nguyên rừng vẫn đang bị đe dọa. Chính điều này đã có ảnh hưởng ít nhiều đến quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Để có cơ sở khoa học giải quyết những vấn đề trên, luận văn: “Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng trồng bền vững theo hướng FSC tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn” được thực hiện là thực sự cần thiết và có ý nghĩa.
Mục tiêu đề tài - Xác định được thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn và phát hiện những tồn tại theo tiêu chuẩn QLRBV và cấp chứng chỉ rừng FSC; - Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với quản lý tài nguyên rừng bền vững ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn - Đề xuất được một số giải pháp góp phần quản lý rừng trồng bền vững ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 2 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý tài nguyên rừng bền vững theo hướng FSC đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu một cách có hệ thống về cơ sở lý luận, thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Cung cấp nguồn dữ liệu tham khảo cho công tác quản lý rừng bền vững cho các giảng viên, sinh viên và những nghiên cứu có liên quan.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Từ kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà khoa học, những người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực lâm nghiệp có cơ sở khoa học để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng bền vững và đưa ra được các giải pháp quản lý rừng bền vững tại huyện Bình Gia và có thể nhân rộng ra các địa phương khác có điều kiện tương tự. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học Chứng chỉ FSC (Forest Stewardship Council): FSC là hệ thống chứng chỉ rừng toàn cầu được thiết lập cho rừng và lâm sản; từ quan điểm của WWF, cơ chế tự nguyện này có thể được coi là một trong những sáng kiến thú vị hơn trong thập kỷ qua nhằm thúc đẩy quản lý rừng tốt hơn. Trong khi một số tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc gia và khu vực thay thế cũng tồn tại trên toàn cầu.
Tổ chức này có 10 Nguyên tắc và Tiêu chí liên quan (FSC P&C) tạo cơ sở cho tất cả các tiêu chuẩn và chứng chỉ quản lý rừng FSC. FSC International đặt ra khuôn khổ để phát triển và duy trì các tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia và tiểu quốc gia. Điều này nhằm đảm bảo rằng quá trình xây dựng các chính sách và tiêu chuẩn FSC là minh bạch, độc lập và có sự tham gia của người dân. Theo Quỹ môi trường toàn cầu Việt Nam (GEF), không có định nghĩa chung cho việc quản lý rừng bền vững (SFM).
Định nghĩa được nhất trí và được sử dụng nhiều nhất giữa các quốc gia được thể hiện trong công cụ không ràng buộc pháp lý (NLBI) cho các loại rừng của Diễn đàn Liên hợp quốc về rừng (UNFF). GEF hoàn toàn ủng hộ định nghĩa này, trong đó nêu: “Quản lý rừng bền vững là một khái niệm mới nhằm mục đích duy trì và nâng cao giá trị kinh tế, xã hội và môi trường của tất cả các loại rừng, cho lợi ích hiện tại và các thế hệ tương lai.” Luật Lâm nghiệp, 2017, Nghị định 156/2018/NĐ-CP, Thông tư 28/2018/TT-BNNPTNT: Quản lý rừng bền vững là phương thức quản trị rừng bảo đảm đạt được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, không làm suy giảm các giá trị và nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh. Chứng chỉ quản lý rừng bền vững là văn bản công nhận một diện tích rừng nhất định đáp ứng các tiêu chí về quản lý rừng bền vững. Sau hội nghị thượng đỉnh ở Rio 1992, khái niệm phát triển bền vững được thảo luận rất nhiều và có nhiều quan điểm chưa thống nhất với nhau cả 4 về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của quản lý rừng bền vững.
Một số tác giả cho rằng khái niệm quản lý rừng bền vững hàm ý việc khai thác các sản phẩm của rừng, chủ yếu là gỗ và bền vững chủ yếu quan tâm đến việc duy trì sự cung cấp lâu dài của các sản phẩm từ rừng. Một số khác lại cho rằng, QLRBV không chỉ yêu cầu sản xuất các sản phẩm cần thiết từ rừng một cách lâu dài mà còn phải duy trì được hệ sinh thái rừng với tư cách một tổng thể chứ không phải là một thành phần hoặc là một sản phẩm nào đó của rừng. Một số tác giả quan niệm bền vững là một điều kiện lý tưởng để hoạt động quản lý rừng vươn tới, còn một số khác quan niệm đơn giản đó là một sự quản lý tốt. Có nhiều định nghĩa về QLRBV được công bố, trong đó có 2 định nghĩa được nhiều người biết đến nhất là: ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm sản và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có và khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường và xã hội”.
Tiến trình Helsinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện – hiện tại và trong tương lai - các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu; và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác. Phần lớn định nghĩa về QLRBV được xuất phát từ quan điểm sản xuất hàng hóa hoặc phát triển ngành Lâm nghiệp, tuy nhiên trong các cuộc thảo luận ở quy mô quốc tế thường có sự nhất trí cao rằng: QLRBV là sự quản lý (William E Manki, 1998) 5 1. Trên thế giới Trên thế giới đã nhiều nhà nghiên cứu về lâm nghiệp bàn đến phát triển lâm nghiệp bền vững trên cơ sở sinh thái học trên quan điểm sử dụng bền vững tài nguyên rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững không thể chỉ xem là vấn đề sinh thái và phải phù hợp với tính bức xúc về môi trường rộng lớn, chính sách và thực tiễn lâm nghiệp không thể tách rời được hướng tới phúc lợi kinh tế, chất lượng cuộc sống cao và chính sách kinh tế xã hội. Tháng 4 năm 1990, Sở Nông công lâm nghiệp Canada (CIF) đã đưa ra bản kêu gọi chính sách của Sở về phát triển bền vững, trong đó nêu khái niệm Quản lý đất rừng bền vững: xác định bảo vệ việc lợi dụng tài nguyên rừng đều là quản lý bền vững sinh vật và việc quản lý đó sẽ không tổn hại đến tính đa dạng sinh vật hoặc trên cơ sở cùng một mảnh đất trong tương lai dùng để kinh doanh tài nguyên rừng khác.
CIF còn chỉ rõ, về khái niệm truyền thống người hoạt động lâm nghiệp lấy việc thu hoạch lâu bền làm mục đích kinh doanh rừng, khái niệm về sử dụng quản lý đất rừng bền vững là đem việc lâu bền của sản xuất gỗ mở rộng ra tất cả các nguồn tài nguyên rừng, đặc biệt là những sản phẩm và lợi ích ngoài gỗ đang biến thành nguồn quan trọng hơn cho xã hội.