CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương mại là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế.
Đây là hình thức tài chính gián tiếp chiếm 2/3 tổng lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính Việt Nam. Trên cơ sở các hoạt động chủ yếu, NHTM được hiểu là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Như vậy, hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại gồm: huy động vốn, cấp tín dụng, đầu tư và các dịch vụ Ngân hàng khác, trong đó hoạt động tín dụng đóng vai trò quan trọng. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại a.
Khái niệm Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách hàng (bên đi vay) trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các Ngân hàng Thương mại.
4 Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản, thu nhập từ tín dụng thường chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của Ngân hàng Thương mại. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào hoạt động này. Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các Ngân hàng Thương mại cũng như thanh tra ngân hàng. Đặc trưng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại - Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin.
Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. - Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền. - Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đầy đủ đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Khái niệm, phân loại rủi ro tín dụng 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn gốc và/ hoặc lãi cho ngân hàng. Với mục tiêu là đúng hạn theo hợp đồng tín dụng nhận được đầy đủ gốc và lãi như đã nêu ở trên, thì rủi ro tín dụng có thể được hiểu là những tổn thất 5 tiềm năng có thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng không có khả năng hoặc không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng Thương mại - hoạt động tín dụng. Các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có của Ngân hàng Thương mại, mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng, song cũng tiềm ẩn rủi ro lớn, có khi dẫn đến phá sản ngân hàng.
Trước khi cho vay, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi tin rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không phải bao giờ ngân hàng cũng dự tính chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân.
Do vậy, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Phân loại rủi ro tín dụng Có rất nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại RRTD tùy thuộc vào mục đích phân tích, nghiên cứu. Đối với hệ thống NHTM, việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập các chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị điều hành nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn b ộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng, giám sát, thu hồi và xử lý khoản nợ nếu có dấu hiệu không bình thường. 6 - Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, chia làm 2 nhóm: Rủi ro đạo đức là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra.
Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch là do thông tin không cân xứng tạo ra truớc khi cuộc giao dịch diễn ra. - Căn cứ theo mức độ tổn thất, chia thành 2 nhóm chính: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong truờng hợp đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chua thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng, kém lỏng và ảnh huởng đến ngân hàng trên 2 phuơng diện: (i) ảnh huởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng. Rủi ro mất vốn là rủi ro khi nguời vay không có khả năng trả đuợc nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay và lúc này, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm (i) tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản lí, chi phí giám sát (ii) giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi.
- Căn cứ theo đối tượng sử dụng, có thể chia thành 3 nhóm chính: Rủi ro khách hàng cá thể: rủi ro tín dụng xảy ra đối với đối tuợng khách hàng cá nhân. Rủi ro công ty/tổ chức kinh tế, định chế tài chính: rủi ro tín dụng xảy ra đối với đối tuợng khách hàng là công ty/tổ chức kinh tế, định chế tài chính. Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: rủi ro tín dụng xảy ra đối với từng quốc gia đối với hoạt động vay nợ, viện trợ. - Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro, rủi ro tín dụng đuợc chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro giao dịch là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro tác nghiệp. Rủi ro danh mục là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng, đuợc phân chia thành rủi ro nội 7 tại và rủi ro tập trung. - Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm 3 nhóm: Rủi ro trước khi cho vay: rủi ro xảy ra khi ngân hàng phân tích đánh giá sai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.
Rủi ro trong khi cho vay: rủi ro này xảy ra trong qui trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm (i) việc giải ngân không đúng tiến độ (ii) không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên (iii) không dự báo được rủi ro tiềm năng. Rủi ro sau khi cho vay: rủi ro này xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắm được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính tương lại của khách hàng. - Căn cứ vào phạm vi của rủi ro tín dụng, chi làm 2 nhóm: rủi ro tín dụng cá biệt và rủi ro tín dụng hệ thống.
Rủi ro tín dụng cá biệt: là rủi ro tín dụng xảy ra chỉ đối với một khoản vay hay một danh mục đầu tư của ngân hàng, áp dụng cho một công ty hay một nhóm ngành cụ thể. Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng (ii) tình hình tài chính của khách hàng (iii) khả năng quản lí của khách hàng (iv) đạo đức khách hàng. Rủi ro tín dụng hệ thống: là rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền cả khu vực ngân hàng.