Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại khu vực Bắc Trung Bộ, tỉnh Nghệ An đã thành lập Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An với tổng diện tích 18.826,47 ha bao gồm 6 khu công nghiệp lớn. Trong đó, Khu công nghiệp (KCN) Nam Cấm là một trong những địa bàn trọng điểm thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sự tập trung của nhiều nhà máy với các ngành nghề sản xuất khác nhau đã làm phát sinh một lượng lớn nước thải có thành phần ô nhiễm phức tạp. Mặc dù KCN Nam Cấm đã đi vào hoạt động gần 10 năm tính đến thời điểm nghiên cứu, hạ tầng kỹ thuật của toàn khu vẫn chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống cộng đồng dân cư xung quanh.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Thực trạng và giải pháp quản lý nước thải tại khu công nghiệp Nam Cấm trên địa bàn tỉnh Nghệ An" được tác giả thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nước thải, nước thải công nghiệp và các công cụ quản lý nước thải công nghiệp phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tại địa bàn tỉnh Nghệ An.
  2. Đánh giá thực trạng phát sinh và quản lý nước thải tại KCN Nam Cấm thông qua khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp và phân tích chất lượng môi trường nước.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có căn cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nước thải, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho KCN Nam Cấm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải công nghiệp và công tác quản lý nước thải công nghiệp tại KCN Nam Cấm.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát hiện trạng phát sinh, thực trạng đầu tư, vận hành hệ thống xử lý nước thải (HTXLNT) cục bộ của các cơ sở sản xuất và công tác thực thi chính sách quản lý môi trường.
  • Phạm vi không gian: Khu công nghiệp Nam Cấm, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và thông tin thực tế được thu thập và đánh giá trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn hóa về môi trường theo TCVN 5980-1995, ISO 6107/1-1980 và Nghị định số 80/2014/NĐ-CP của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải. Nước thải công nghiệp được xác định theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT, phân loại theo hai tiêu chí chính: mức độ ô nhiễm (nước thải sản xuất bẩn và nước thải sản xuất không bẩn) và theo nhóm ngành nghề sản xuất (chế biến nông - lâm - thủy sản, vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản - luyện kim, cơ khí - điện tử).

Nghiên cứu sử dụng khung phân tích hệ thống công cụ quản lý môi trường:

  • Công cụ pháp lý: Quy chế Bảo vệ môi trường KCN ban hành theo Quyết định số 62/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 09/8/2002 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn môi trường (TCVN 6981:2001, QCVN 11:2008/BTNMT, QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 24:2009/BTNMT, QCVN 40:2011/BTNMT).
  • Công cụ kinh tế: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP (áp dụng công thức tính phí $F = f + C$ đối với nước thải không chứa kim loại nặng và $F = (f \times K) + C$ đối với nước thải chứa kim loại nặng với hệ số $K$ từ 2 đến 21); công cụ giấy phép chuyển nhượng hạn ngạch ô nhiễm; hệ thống ký quỹ - đặt cọc hoàn trả và ký quỹ phục hồi môi trường.
  • Công cụ giáo dục, truyền thông: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trách nhiệm môi trường của chủ doanh nghiệp và cộng đồng.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tổng hợp mô hình cấp phép xả thải định kỳ (5 năm/lần tại Mỹ, 2 năm/lần tại Anh) và chính sách thu phí bảo vệ môi trường vùng hồ Laguna tại Philippines theo Nghị quyết số 26 năm 1996 (giúp giảm 13,29% tải lượng BOD vào năm 1998 và giảm 88% vào năm 1999).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo hiện trạng môi trường từ Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nghi Lộc, Ban quản lý Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An và Công ty Phát triển KCN Nghệ An.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra khảo sát thực địa thông qua phỏng vấn và phát phiếu điều tra trực tiếp tại 22 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất trong KCN Nam Cấm; kết hợp phương pháp chuyên gia, chuyên khảo qua trao đổi với cán bộ quản lý môi trường địa phương.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập liệu, thống kê mô tả, tổng hợp bảng biểu và phân tích so sánh các chỉ tiêu kinh tế - môi trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý nước thải công nghiệp

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp, các chất gây ô nhiễm chính (TSS, BOD, COD, hợp chất N, P, kim loại nặng, hóa chất hữu cơ khó phân hủy) và tác động sinh thái khi xả thải chưa qua xử lý vào nguồn nước tiếp nhận.

Tác giả phân tích bức tranh tổng thể về quản lý nước thải KCN tại Việt Nam:

  • Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), toàn quốc có 171/223 KCN hoạt động với tổng diện tích gần 57.300 ha (tỷ lệ lấp đầy trung bình 46%), khoảng 70% trong tổng số hơn 1 triệu m³/ngày nước thải xả thẳng ra môi trường và 57% số KCN chưa có HTXLNT tập trung.
  • Đến tháng 12/2013, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước có 297 KCN được thành lập, 208 KCN đi vào hoạt động nhưng mới có 158 KCN hoàn thành HTXLNT tập trung (24% số KCN đang hoạt động chưa hoàn thành trạm xử lý), các hệ thống hiện hữu chỉ xử lý được khoảng 60% tổng lưu lượng nước thải phát sinh.
  • Trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong 7 KCN được quy hoạch chỉ có 2 KCN đã vận hành (Nam Cấm và Bắc Vinh). Tại KCN Bắc Vinh, sau 7 năm hoạt động với 18 doanh nghiệp, đến năm 2014 mới xây dựng xong HTXLNT tập trung nhưng chưa tiến hành đấu nối đồng bộ; KCN Hoàng Mai đang trong giai đoạn thẩm tra thiết kế kỹ thuật.

Chương II: Thực trạng quản lý nước thải công nghiệp tại KCN Nam Cấm tỉnh Nghệ An

Chương II tập trung phân tích thực địa tại KCN Nam Cấm (thành lập theo Quyết định số 3759/QĐ-UB-CN ngày 03/10/2003 của UBND tỉnh Nghệ An với quy mô 327,83 ha thuộc địa bàn 4 xã: Nghi Thuận, Nghi Long, Nghi Xá, Nghi Quang, huyện Nghi Lộc).

1. Cơ cấu ngành nghề và nguồn phát sinh nước thải: Đến thời điểm khảo sát, KCN có 53 dự án được cấp phép, trong đó 22 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh với cơ cấu ngành nghề như sau:

Nhóm ngành sản xuất Tỷ lệ (%) Số lượng doanh nghiệp Vốn đầu tư bình quân (Tỷ đồng) Lao động (Người)
Công nghiệp chế biến 45,5% 10 117,2 2.046
Chế biến khoáng sản, luyện kim 27,3% 6 86,4 1.213
Sản xuất vật liệu xây dựng 18,2% 4 75,9 825
Cơ khí, điện tử 9,1% 2 324,5 1.120
Tổng cộng 100% 22 - 5.204

Tải lượng ô nhiễm phân hóa theo ngành nghề:

  • Ngành chế biến thực phẩm - đồ uống: Nhà máy bia phát sinh 18,3 m³ nước thải/1.000 lít bia với tải lượng BOD₅ là 15,5 kg và TSS là 8,15 kg; sản xuất rượu từ đường mía phát sinh 36 m³ nước thải/1.000 lít rượu với tải lượng BOD₅ lên tới 210 kg và TSS là 75 kg.
  • Ngành cơ khí: Quá trình tẩy kiềm thải ra lượng kiềm (NaOH) là 490 kg/1.000 m² và nhôm (Al) là 55 kg/1.000 m²; tổng tải lượng ô nhiễm đạt 963,4 kg/1.000 m². Nhóm điện tử phát sinh tổng tải lượng 96,4 kg/1.000 m² bề mặt.

2. Đánh giá chất lượng nước thải tại nguồn tiếp nhận: Kết quả phân tích mẫu nước tại Bara Cầu Kiệt (tháng 6/2014) do Trung tâm Quan trắc Kỹ thuật Môi trường Nghệ An thực hiện cho thấy nhiều thông số vượt Quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1):

STT Thông số phân tích Đơn vị Kết quả quan trắc QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) Mức độ so sánh
1 pH - 7,8 5,5 – 9 Đạt quy chuẩn
2 Nhiệt độ °C 33 - -
3 DO mg/l 5,57 $\ge$ 4 Đạt quy chuẩn
4 TSS mg/l < 10 50 Đạt quy chuẩn
5 BOD₅ mg/l < 2,7 15 Đạt quy chuẩn
6 COD mg/l 40 30 Vượt > 1,3 lần
7 NH₄⁺ mg/l 1,51 0,5 Vượt > 3,02 lần
8 F⁻ mg/l 0,04 1,5 Đạt quy chuẩn
9 NO₂⁻ mg/l 0,17 0,04 Vượt > 4,25 lần
10 NO₃⁻ mg/l 0,66 10 Đạt quy chuẩn
11 Tổng dầu mỡ mg/l 0,6 0,1 Vượt > 6,0 lần
12 Coliforms MPN/100ml 550 7.500 Đạt quy chuẩn

3. Thực trạng xử lý nước thải tại các doanh nghiệp:

  • Toàn KCN có 15/22 doanh nghiệp có HTXLNT cục bộ (chiếm 68,2%), còn 7/22 doanh nghiệp (chiếm 31,8%) chưa xây dựng hệ thống xử lý do kinh phí hạn chế hoặc vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
  • Các đơn vị có HTXLNT quy mô lớn ($1.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$) gồm: Nhà máy Bia Hà Nội (vốn đầu tư HTXLNT 13 tỷ đồng, quy trình công nghệ gồm Bể gom $\rightarrow$ Bể điều hòa $\rightarrow$ Bể lắng 1 $\rightarrow$ Bể UASB $\rightarrow$ Bể Aerotank $\rightarrow$ Bể lắng 2 $\rightarrow$ Bể khử trùng Clo, nước thải đầu ra đạt QCVN 24:2009/BTNMT Cột B), Công ty CP Khoáng sản Miền Trung và Nhà máy sản xuất thức ăn gia súc đặc khu HOPE.
  • Khảo sát nhóm doanh nghiệp có HTXLNT cục bộ ($n=12$) cho thấy: chi phí đầu tư xây dựng trung bình 465 triệu đồng/doanh nghiệp, chi phí vận hành bình quân 11,7 triệu đồng/tháng, nhân lực vận hành trung bình 4 người, công suất thiết kế bình quân $343\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ trong khi thải lượng thực tế là $158\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.
  • Tồn tại vi phạm nghiêm trọng: Năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An đã ra quyết định đình chỉ sản xuất 1 năm đối với Công ty Chế biến Hải sản Đông lạnh Hải An do không có HTXLNT, xả nước thải chưa xử lý ra môi trường; Công ty CP Minh Thái Sơn cũng trong tình trạng xả thải trực tiếp vào mương thoát nước.

4. Công tác quản lý nhà nước và thủ tục môi trường:

  • Hồ sơ môi trường: Có 7 doanh nghiệp lập Báo cáo ĐTM (31,8%), 2 doanh nghiệp lập Cam kết BVMT (9,1%), 10 doanh nghiệp có Giấy xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường (45,5%) và 3 doanh nghiệp chưa thực hiện bất kỳ thủ tục nào (13,6% gồm: Công ty Chế biến gỗ Thanh Sơn, Công ty TNHH TM Vic, Công ty TNHH Thanh Thành Đạt).
  • Công tác quan trắc định kỳ: Chỉ có 32% doanh nghiệp thực hiện quan trắc 6 tháng/lần hoặc 1 năm/lần; 23% chỉ thực hiện khi có sự cố môi trường và 14% số doanh nghiệp chưa từng tiến hành quan trắc.
  • Tiến độ HTXLNT tập trung: Dự án được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt từ năm 2006 (Quyết định số 2810/QĐ.UBND-CN), điều chỉnh vị trí về khu B vào năm 2008 và 2010. Do vốn ngân sách bố trí ban đầu chỉ có 1,8 tỷ đồng nên bị chậm tiến độ. Đến tháng 4/2012, dự án được chuyển đổi chủ đầu tư sang Ban Quản lý Khu kinh tế Đông Nam, cơ bản hoàn thành vào cuối năm 2014 và chuẩn bị vận hành trong năm 2015.
  • Thu phí nước thải: Do KCN chưa hoàn thiện HTXLNT tập trung nên việc xác định lưu lượng xả thải làm căn cứ thu phí bảo vệ môi trường theo quy định vẫn chưa thể triển khai.

Chương III: Một số giải pháp tăng cường quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách:

    • Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, tăng cường hiệu lực cưỡng chế đối với các hành vi xả trộm nước thải chưa xử lý; đình chỉ hoạt động hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm nghiêm trọng kéo dài.
    • Gắn công tác quy hoạch KCN với hạ tầng bảo vệ môi trường: Yêu cầu các dự án mới xây dựng bắt buộc phải lập phương án HTXLNT; điều chỉnh quy hoạch quỹ đất cho các nhà máy đang hoạt động để bổ sung công trình xử lý nước thải cục bộ; nâng cấp hệ thống thoát nước mưa và nước thải riêng biệt.
    • Định hướng chuyển đổi KCN Nam Cấm sang mô hình KCN sinh thái/thân thiện môi trường, ưu tiên quỹ đất nghiên cứu phát triển và công nghệ sạch.
  2. Nhóm giải pháp về tài chính và công cụ kinh tế:

    • Triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP; tính toán mức phí tối ưu đảm bảo đủ sức răn đe (cao hơn chi phí vận hành hệ thống xử lý của doanh nghiệp).
    • Thiết lập cơ chế thưởng - phạt minh bạch: Xử phạt hành chính kết hợp cưỡng chế cắt điện, nước đối với cơ sở cố tình vi phạm; khen thưởng, miễn giảm thuế đối với sản phẩm thân thiện môi trường.
    • Áp dụng các công cụ kinh tế bổ trợ: Ký quỹ môi trường bắt buộc, hạn ngạch giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng và chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi đổi mới công nghệ giảm thiểu chất thải.
  3. Nhóm giải pháp về tuyên truyền, giáo dục:

    • Tuyên truyền nâng cao nhận thức theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" cho chủ doanh nghiệp; nâng cao năng lực chuyên môn quản lý môi trường cho cán bộ cấp huyện, xã.
    • Công khai danh tính các doanh nghiệp vi phạm xả thải trên các phương tiện thông tin đại chúng để tạo áp lực xã hội từ cộng đồng dân cư xung quanh KCN.
    • Lồng ghép giáo dục bảo vệ tài nguyên nước trong hệ thống giáo dục đào tạo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng hợp đầy đủ hệ thống dữ liệu thực chứng về quy mô, vốn đầu tư, cơ cấu lao động và cơ cấu ngành nghề tại 22 doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN Nam Cấm giai đoạn 2012–2014.
  • Làm rõ thực trạng xả thải: 68,2% doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải cục bộ, 31,8% chưa đầu tư; tính toán cụ thể các chỉ tiêu tài chính vận hành HTXLNT cục bộ (chi phí xây dựng bình quân 465 triệu đồng, vận hành 11,7 triệu đồng/tháng).
  • Đánh giá chất lượng nước tiếp nhận tại Bara Cầu Kiệt với các thông số ô nhiễm vượt ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT Cột B1: COD (vượt 1,3 lần), $\text{NH}_4^+$ (vượt 3,02 lần), $\text{NO}_2^-$ (vượt 4,25 lần) và tổng dầu mỡ (vượt 6,0 lần).
  • Xác định nguyên nhân chậm trễ của dự án HTXLNT tập trung KCN Nam Cấm do vốn ngân sách bố trí ban đầu (1,8 tỷ đồng) quá thấp so với tổng mức đầu tư và việc thay đổi chủ đầu tư từ Công ty Phát triển KCN Nghệ An sang Ban Quản lý KKT Đông Nam vào năm 2012.

Giải pháp và kiến nghị

  • Kiến nghị chính quyền địa phương và Ban Quản lý Khu kinh tế Đông Nam sớm hoàn thành các hạng mục đấu nối và đưa trạm xử lý nước thải tập trung vào vận hành chính thức trong năm 2015; thiết lập cơ chế thu phí nước thải công nghiệp đồng bộ.
  • Yêu cầu các doanh nghiệp trong KCN chấp hành nghiêm quy định tự quan trắc định kỳ (tối thiểu 2 lần/năm), nâng cấp công suất HTXLNT cục bộ đáp ứng tương ứng với thải lượng sản xuất thực tế.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bức tranh dữ liệu khảo sát thực tế toàn diện, kết hợp phân tích kỹ thuật - môi trường và góc độ quản trị kinh tế tài nguyên tại KCN Nam Cấm, bổ sung nguồn tư liệu thực chứng cho công tác quản lý môi trường KCN tại địa phương trong giai đoạn 2011–2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực địa giới hạn tại 22 doanh nghiệp đang hoạt động trong phạm vi KCN Nam Cấm giai đoạn 2012–2014; các số liệu quan trắc chất lượng nước chỉ phản ánh thời điểm đo đạc (tháng 6/2014) tại Bara Cầu Kiệt và Nhà máy Bia Hà Nội, chưa đánh giá hết diễn biến ô nhiễm theo chu kỳ mùa trong năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá hiệu quả xử lý sau khi HTXLNT tập trung đi vào vận hành chính thức; nghiên cứu mô hình tính toán mức phí xả thải linh hoạt và xây dựng chuỗi liên kết sinh thái công nghiệp cho toàn bộ KKT Đông Nam Nghệ An.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên các ngành Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Quản lý Môi trường, Kinh tế Phát triển và Kỹ thuật Môi trường khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về quản lý chất thải công nghiệp và công cụ kinh tế môi trường.
  • Cán bộ quản lý tại Chi cục Bảo vệ Môi trường Nghệ An, Ban Quản lý Khu kinh tế Đông Nam và các đơn vị phát triển hạ tầng KCN trong việc xây dựng cơ chế kiểm soát xả thải và quy hoạch hạ tầng bảo vệ môi trường.
  • Các nội dung đáng tham khảo: Bảng hệ số phát thải theo từng ngành sản xuất, sơ đồ công nghệ xử lý nước thải nhà máy bia và bảng phân tích định lượng chi phí đầu tư - vận hành hệ thống xử lý nước thải cục bộ của doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu ngành nghề của 22 doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Nam Cấm được phân bổ như thế nào?
Ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,5% (10 doanh nghiệp, vốn bình quân 117,2 tỷ đồng, 2.046 lao động); ngành chế biến khoáng sản, luyện kim chiếm 27,3% (6 doanh nghiệp, vốn bình quân 86,4 tỷ đồng, 1.213 lao động); ngành sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 18,2% (4 doanh nghiệp, vốn bình quân 75,9 tỷ đồng, 825 lao động); ngành cơ khí, điện tử chiếm 9,1% (2 doanh nghiệp, vốn bình quân 324,5 tỷ đồng, 1.120 lao động).

2. Thực trạng đầu tư và vận hành hệ thống xử lý nước thải cục bộ của các doanh nghiệp tại KCN Nam Cấm ra sao?
Có 15/22 doanh nghiệp (68,2%) có HTXLNT cục bộ và 7/22 doanh nghiệp (31,8%) chưa xây dựng. Theo khảo sát nhóm 12 doanh nghiệp, chi phí xây dựng HTXLNT trung bình là 465 triệu đồng, chi phí vận hành bình quân 11,7 triệu đồng/tháng, nhân lực vận hành trung bình 4 người, công suất xử lý thiết kế bình quân đạt $343\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ so với thải lượng thực tế $158\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.

3. Mẫu nước mặt tại Bara Cầu Kiệt (tháng 6/2014) có những chỉ tiêu nào vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1)?
Có 4 chỉ tiêu vượt quy chuẩn gồm: COD đạt 40 mg/l (vượt > 1,3 lần so với giới hạn 30 mg/l), $\text{NH}_4^+$ đạt 1,51 mg/l (vượt > 3,02 lần so với giới hạn 0,5 mg/l), $\text{NO}_2^-$ đạt 0,17 mg/l (vượt > 4,25 lần so với giới hạn 0,04 mg/l) và tổng dầu mỡ đạt 0,6 mg/l (vượt > 6,0 lần so với giới hạn 0,1 mg/l).

4. Vì sao công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại KCN Nam Cấm chưa được triển khai trong giai đoạn nghiên cứu?
Công tác thu phí chưa thể triển khai do KCN Nam Cấm chưa hoàn thành và vận hành HTXLNT tập trung, dẫn đến việc thiếu cơ sở kỹ thuật và đo đạc chính xác để xác định lưu lượng nước thải tương ứng với định mức tính phí của từng cơ sở sản xuất theo quy định tại Nghị định số 25/2013/NĐ-CP.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kiều Oanh đã phản ánh toàn diện thực trạng phát sinh, xử lý và quản lý nước thải tại KCN Nam Cấm (tỉnh Nghệ An) trong giai đoạn 2012–2014. Nghiên cứu chỉ ra những bất cập lớn về hạ tầng bảo vệ môi trường, đặc biệt là tình trạng thiếu HTXLNT tập trung sau gần 10 năm KCN đi vào hoạt động cùng tỷ lệ 31,8% doanh nghiệp chưa có công trình xử lý cục bộ. Hệ thống giải pháp đề xuất kết hợp đồng bộ giữa công cụ pháp lý, công cụ kinh tế và tuyên truyền giáo dục mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý và định hướng phát triển bền vững các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.