Chương 1. Thủy tinh kính thải PV. Thủy tinh là hợp chất vô cơ nóng chảy được làm nguội tới trạng thái quá lạnh mà không kết tinh [3]. Thủy tinh có thành phần chủ yếu là silicate (SiO2), được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp và dân dụng do các đặc tính của chúng.
Từ quy trình công nghiệp và hoạt động tiêu dùng đã tạo ra một lượng nguồn thải thủy tinh dồi dào. Chính vì vậy, việc xử lý và quản lý thủy tinh thải có những thách thức đáng kể, chủ yếu là do bản chất không phân hủy sinh học và tác động môi trường tiềm ẩn. Mẫu kính thải dân dụng. Trong luận văn này, trọng tâm cụ thể là kính thải quang điện (PhotoVoltaic, PV), là một phần của lượng thủy tinh phế thải khổng lồ.
Kính thải PV có nguồn gốc từ lớp trên cùng của tấm pin quang điện. Thành phần thủy tinh chiếm lên tới 75% khối lượng của tấm PV (Bảng 1. Thành phần thủy tinh của các tấm PV phục vụ nhiều mục đích, cung cấp hỗ trợ cấu trúc, bảo vệ các tế bào quang điện nhạy cảm khỏi các yếu tố bên ngoài và đảm bảo truyền dẫn ánh sáng tối ưu (Hình 1. 4 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân Bảng 1.
Thành phần phần trăm theo khối lượng (%wt) của tấm PV [4]. Phần trăm theo khối lượng Thành phần tấm PV (%wt) Lớp thủy tinh 74.55 Lớp bán dẫn quang điện 3.48 Tấm nền nhựa 3.60 Chất kết dính 1. Cấu trúc và vật liệu của một tấm PV Cd-Te [5]. Khi công nghệ pin năng lượng mặt trời tiếp tục phát triển, việc lắp đặt các hệ thống quang điện đã chứng kiến một sự đột biến đáng kể.
Theo BIO Intelligence Service thuộc Cơ quan Môi trường Châu Âu dự đoán tổng lượng tấm PV hết hạn sử dụng trên toàn cầu vào năm 2050 có thể lên tới 9,57 triệu tấn [6]. Theo thống kê của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đến hết ngày 31/12/2020, đã có 101.029 công trình điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) đã được đấu nối vào hệ thống 5 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân điện với tổng công suất lắp đặt lên tới gần 9. Đồng thời, theo Quyết định số 500/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển NLTT (Quy hoạch điện VIII) ký kết ngày 15 tháng 5 năm 2023. Đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện mặt trời dự kiến tăng thêm 4.100 MW; định hướng đến năm 2050, tổng công suất 168.
Về mặt lý thuyết, các tấm PV chỉ có thời hạn sử dụng trong khoảng 25-30 năm [2]. Bên cạnh đó, các tấm PV chứa chì (Pb), cadmium (Cd) và nhiều hóa chất độc hại khác [7]. Với việc sử dụng ngày càng gia tăng, số lượng tấm PV đạt đến giai đoạn cuối của vòng đời sẽ tăng đều đặn, kính thải PV sẽ trở thành một dạng chất thải nguy hại khi hết thời gian sử dụng và có thể gây hại cho môi trường nếu không được thu hồi hoặc xử lý đúng cách. Do đó, việc quản lý các tấm PV đã hết tuổi thọ và các vật liệu cấu thành bao gồm cả kính thải PV, đã trở thành mối quan tâm cấp bách.
Quy trình tái chế tấm PV Cd-Te của công ty First solar [8]. Việc xử lý thủy tinh thải PV đưa ra những thách thức khác biệt so với chất thải thủy tinh nói chung. Các tấm pin PV thường kết hợp các lớp bổ sung như lớp phủ màng, vật liệu đóng gói và lớp điện cực kim loại, những lớp này cần được phân tách và quản lý cẩn thận trong quá trình tái chế (Hình 1. Ngoài ra, khối lượng chất thải PV ngày càng tăng được tạo ra trên toàn cầu, đòi hỏi phải phát triển các chiến lược hiệu quả và bền vững để xử lý loại chất thải thủy tinh này.
Hội đồng Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Chỉ thị 2012/19/EC về rác thải thiết bị điện và điện tử 6 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân (WEEE), nhằm hạn chế và thúc đẩy tái chế rác thải điện tử, trong đó rác thải từ tấm PV được chú trọng [6]. Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ: Về quản lý chất thải và phế liệu, trong đó chất thải nguy hại được nhấn mạnh, tấm PV có thể được xem như là chất thải nguy hại cần được thu gom và quản lý bởi các tổ chức, cá nhân sản xuất, sử dụng pin năng lượng mặt trời [9]. Việc tổng hợp khoáng Calcium Silicat Hydrat (CSH) từ thủy tinh kính thải PV mang đến cơ hội quý giá để giải quyết các thách thức về quản lý chất thải và bảo vệ môi trường nước. Bằng cách tái sử dụng kính thải PV làm nguyên liệu tổng hợp, nghiên cứu này nhằm góp phần phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành công nghiệp năng lượng mặt trời.
Việc tổng hợp khoáng CSH đưa ra một giải pháp tiềm năng để loại bỏ Cr(III) khỏi nước thải công nghiệp, chứng minh lợi ích kinh tế và môi trường của việc sử dụng thủy tinh thải PV để sản xuất các vật liệu chức năng. Bùn thải carbide. Bùn thải carbide là phụ phẩm được tạo ra trong quá trình sản xuất khí acetylene từ Calcium carbide. Calcium carbide có công thức hóa học là CaC2 và khối lượng phân tử là 64,099 g/mol có dạng tinh khiết không màu, nhưng hầu hết điều có màu từ đen đến trắng xám.
Mật độ của bùn thải là 2,22 g/cm3 và nóng chảy ở 2160 °C. Mục đính ứng dụng chính trong công nghiệp là sản xuất axetylen và Calcium cyanamide (CaCN2) [10]. Trong công nghiệp, Calcium carbide được sản xuất bằng cách nung đá vôi (CaCO3) và than cốc (carbon) trong lò hồ quang điện sử dụng điện cực graphite. Quá trình này được gọi là phương pháp lò hồ quang điện, yêu cầu thực hiện ở nhiệt độ cao khoảng 2300 °C và sản phẩm là Calcium carbide.
Phương pháp này không thay đổi kể từ khi được phát minh vào năm 1888. Hàm lượng CaC2 của sản phẩm được xác định bằng cách đo lượng khí axetylen sinh ra khi thủy phân (phương trình (1)) [10]. Phương trình tổng hợp Calcium carbide: CaCO3 (s) + 3C (s)→ CaC2 (s)+ CO (g) (1) 7 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân Hình 1. Quy trình sản xuất calcium carbide [10].
Acetylene được tổng hợp bằng cách cho nước vào calcium carbide, tạo ra sản phẩm chính là khí Acetylene (C2H2) và Calcium Hydroxide (Ca(OH)2) dưới dạng phụ phẩm (phương trình (2)). Khí acetylene có nhiều ứng dụng, bao gồm sử dụng làm nhiên liệu hàn và cắt, làm tiền chất để sản xuất nhựa và hóa chất, và là một thành phần trong quy trình gia công kim loại [11]. Phương trình tổng hợp khí acelylen từ Calcium carbide trong công nghiệp: CaC2 (s) + 2H2O (aq) → C2H2 (g) + Ca(OH)2 (aq) + 64kcal (2) 8 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân Hình 1. Sơ đồ tổng hợp khí acetylene trong công nghiệp [12].
Từ phương trình (2),và Hình 1. Ta thấy được quá trình tổng hợp acetylene đã tạo thành phụ phẩm Ca(OH)2, một lượng lớn phụ phẩm Ca(OH)2 này tích lại đã dẫn đến sự hình thành lượng bùn thải carbide. Calcium Hydroxide, nguồn thải chính, còn được gọi là bùn thải carbide hoặc vôi carbide, được thải ra ở mức 10–12 tấn mỗi ngày khi khí axetylen được tổng hợp ở năng suất 100 m3 giờ–1 và đồng thời cần 900 kg Calcum carbide. Bùn thải carbide có hình thái sẫm màu, ẩm ướt và dính nhớt có mang tính kiềm (pH = 12-14) và một lượng nhỏ các tạp chất khác [13].
Lượng bùn này đặt ra những thách thức về xử lý và quản lý do tác động môi trường tiềm ẩn, đặc biệt nếu không được xử lý đúng cách. Bùn thải tại nhà máy Sovigaz. 9 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân Sản xuất Calcium carbide ở Trung Quốc ngày càng tăng. Năm 2005, sản lượng là 8,94 triệu tấn, với khối lượng sản xuất tiềm năng là 17 triệu tấn.
Mức sản xuất ở Hoa Kỳ trong những năm 1990 là 236. Theo Nhóm tư vấn và nghiên cứu phân tích thị trường quốc tế (Market Analysis Research and Consulting Group, IMARC Group), quy mô thị trường khí acetylene toàn cầu đạt 5,9 tỷ USD vào năm 2022. Trong tương lai, IMARC dự kiến thị trường sẽ đạt 6,9 tỷ USD vào năm 2028, với tốc độ tăng trưởng là 3% trong giai đoạn 2023-2028 [14]. Với tốc độ tăng trưởng thị trường đều đặn chứng tỏ nền công nghiệp khí acetylene vẫn phát triển, đều này dẫn tới khối lượng bùn thải ngày càng tăng cao gây ô nhiễm môi trường.
Hiện nay, khối lượng bùn thải này hiện đang được giải quyết tạm thời là đổ vào kho chứa chất thải hoặc làm vật liệu san lấp. Trong luận văn này, bùn thải carbide đang được nghiên cứu như một nguyên liệu tiềm năng cùng với thủy tinh thải PV để tổng hợp khoáng CSH. Bằng cách kết hợp bùn carbide vào quy trình tổng hợp thủy nhiệt, mục đích là sử dụng nguồn thải này như một nguồn tài nguyên quý giá thay vì chỉ xử lý như chất thải. Cách tiếp cận này phù hợp với các nguyên tắc của nền kinh tế tuần hoàn bằng cách tái sử dụng các vật liệu phế thải và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Hơn nữa, khoáng CSH được tổng hợp có thể góp phần xử lý nước và loại bỏ các chất gây ô nhiễm khỏi nước thải công nghiệp, thúc đẩy hơn nữa việc quản lý bền vững cả kính thải PV và bùn thải carbide. Khoáng Calcium Silicate Hydrate. Khoáng Calcium Silicate Hydrate. Khoáng Calcium Silicate Hydrate (CSH) là một loại hợp chất vô cơ calcium silicate ngậm nước, loại khoáng này đã thu hút được sự chú ý đáng kể do các đặc tính độc đáo và ứng dụng rộng rãi.
Khoáng CSH thể hiện khả năng hấp phụ tuyệt vời, diện tích bề mặt cao và đặc tính trao đổi ion, khiến cho CSH rất phù hợp cho các ứng dụng công nghiệp khác nhau, bao gồm cả xử lý nước thải công nghiệp. Về cấu trúc, khoáng CSH có cấu trúc trật tự dạng chuỗi với tứ diện SiO4- và Ca- O. Cụ thể, Tứ diện silicate được sắp xếp trong chuỗi các tứ diện silicate với cấu trúc trật tự dreierketten và được liên kết thông qua một lớp calcium oxide, Ca-O. Trong 10 Luận văn thạc sĩ Trần Ngô Quân đó, hai tứ diện silicate nối đôi từ hai chuỗi dreierketten đối diện được kết nối với nhau thông qua lớp Ca-O tại lớp Intralayer, trong khi tứ diện silicate thứ ba chiếm vị trí cầu nối và không liên kết hoàn toàn với lớp Ca-O, các Ca-O liên kết với các tứ diện SiO4- thông qua các nguyên tử Oxy [15]–[17].
Ngoài ra, các Ca2+ cũng liên kết trật tự với liên kết Si-O của các tứ diện Silicate cầu nối tại lớp Interlayer [18]–[21]. Như trong Hình 1.