Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đội ngũ giảng viên. Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh. Giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý: Từ xa xưa, khi các hoạt động trong xã hội loài người còn tương đối đơn giản với quy mô chưa lớn, công việc đơn quản lý được thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm vơí sự linh hoạt, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức.
Kinh nghiệm ngày càng phong phú và người ta rút ra những điều mang tính quy luật có thể vận dụng trong nhiều tình huống tương tự. Ngày nay, quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Đề cập đến vấn đề quản lý, Các Mác đã viết : “Bất cứ lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ huy để điều hoà các hoạt động cá nhân.
Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.40) Ngoài ra, từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, xuất hiện rất nhiều quan điểm quản lý, đặc biệt ở các nước phương Tây. Tay lor cho rằng : “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. 40) Harold Koontz trong cuốn sách “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng : “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất”.33) Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra chức năng quản lý gồm :“Dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.15) Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang :“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.15) Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng : “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.1) Như vậy dấu hiệu bản chất nhất của quản lý chính là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý để nhằm đạt mục tiêu.
Vì thế, quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó mang tính khoa học là vì các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên nhũng quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời cũng mang tính nghệ thuật vì nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội. Trong lao động quản lý chủ thể tác động vào khách thể thông qua một hệ thống các hoạt động xác định. Các hoạt động đó được chuyên môn hoá gọi là chức năng quản lý.
Khi xác định chức năng quản lý có nhiều cách trình bày khác nhau. Tuy nhiên, được thống nhất ở bốn chức cơ bản sau: - Lập kế hoạch : Xác định mục tiêu nội dung, biện pháp, thời gian và các điều kiện đảm bảo tính khả thi của kế hoạch. Kế hoạch là nền tảng của công tác quản lý. - Tổ chức : Xác định các mối quan hệ, tính chất và cách thức từ đó và sắp xếp bố trí con người, nguồn lực cho công việc.
Đây là chức năng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng nhất của quản lý vì nó phản ánh toàn bộ nội dung, mục tiêu quản lý. Nhờ tổ chức có hiệu quả, có khoa học, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn nhân lực. - Chỉ đạo : Chỉ đạo thực chất là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của người quản lý đối với các hoạt động và các thành viên của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý. Hoạt động nảy sinh từ khi xây dựng mục tiêu, đến quá trình lập kế hoạch, tổ chức nhân sự, kiểm tra và đánh giá kết quả.
Chỉ đạo là hoạt động thường xuyên mang tính kế thừa, phát triển - Kiểm tra là quá trình đo lường, đánh giá kết quả tìm ra ưu điểm, khuyết điểm để sữa chữa, điều chỉnh trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu đề ra. Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là quản lý. Kiểm tra chính là sự thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý. Kiểm tra bao gồm yếu tố cơ bản sau đây : xem xét, thu thập thông tin ngược, đánh giá việc thực hiện công việc theo chuẩn, nếu có sự sai lệch thì phải điều chỉnh uốn nắn.
Trên thực tế, các chức năng trên diễn ra tuần hoàn theo một chu trình với tính logic chặt chẽ. Tuy nhiên các chức năng kế tiếp và độc lập với nhau chỉ là tuơng đối, tuỳ theo nội dung, thời điểm mà một số chức năng có thể tiến hành đồng thời, đan xen với nhau. Quản lý giáo dục: Giáo dục là một chức năng của Xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, vượt qua hoạt động “tập tính” của các loài động vật. Cũng như mọi hoạt động của Xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành.
Bản thân sự giáo dục được tổ chức và có mục đích đã là một thực tiễn quản lý giáo dục sống động. Nhà sư phạm lỗi lạc Cômenxki (1592- 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường – một tài sản quý báu cho đến nay, đã tạo cơ sở ra đời của vấn đề quan trọng hàng đầu của quản lý giáo dục là “tổ chức hệ thống giáo dục” trên quy mô toàn Xã hội. Cômexinki đã đề xuất một hệ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống các trường học dành cho các lưá tuổi khác nhau. Uxin-xki (1824- 1870), nhà sư phạm vĩ đại người Nga, những quan điểm giáo dục dân chủ, dân tộc và nhân dân của ông rất gần gũi với các quản điểm quản lý giáo dục được phát triển trong thế kỷ XX.
Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên xô (cũ), đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề khác nhau của quản lý giáo dục. Năm 1956, lần đầu tiên xuát hiện cuốn “quản lý trường học” của A.Pôpốp một nhà sư phạm và quản lý giáo dục của Liên xô cũ. Đây không phải là một công trình nghiên cứu mà mang tính chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn đối với người làm công tác giáo dục. Trong thời gian gần đây, tài liệu, sách báo, tạp chí đựơc xuất bản rất nhiều.
Điển hình là các công trình”Nghề hiệu trưởng-một triển vọng thực tiễn được phản ánh của Thomas J. Seriovanni (1995); “Quản lý giáo dục – Lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” của Wayne K. Theo ba tác giả M.V Hudomixki; “Quản lý khoa học trong hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống: từ Bộ Giáo dục đến các trường, các cơ sở giáo dục khác nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục chủ nghĩa cho các thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ, thiếu niên và thanh niên. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ điều hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tinh chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về vật chất”.
12) 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục đích đã định. Quan hệ trong quản lý giáo dục là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học trong các hoạt động giáo dục. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc : “quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao”. 14) Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay được mở rộng không chỉ đơn thuần là các hoạt động quản lý ngành giáo dục đào tạo mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục đào tạo mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục- đào tạo thực hiện lời Bác dạy “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.
Giảng viên, đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng viên 1. Giảng viên: Theo điều 61 Luật giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998: - “Nhà giáo là người làm nhiệm cụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác”. - “Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên: ở cơ sở giáo dục đại hợc và sau đại học gọi là giảng viên.” Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: + Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt. + Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp. + Lý lịch bản thân rõ ràng. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.