ĐẶT VẤN ĐỀ Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, việc sản xuất hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu sang các quốc gia vùng lân cận với giá trị ngày càng tăng. Tại Nam Định, theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh là: Xây dựng nền kinh tế có bước phát triển nhanh, bền vững, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, trọng tâm là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Trong đó, tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành nghề tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt từ 10,5-11%/năm; giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 19-20% tổng giá trị ngành công nghiệp của tỉnh.
Hàng năm, tạo thêm việc làm mới cho khoảng 2. Tập trung đầu tư phát triển nhóm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cả về hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nhân lực [10]. Cũng theo đó Đảng ủy UBND huyện Nam Trực từng bước xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế của huyện. Là một xã duy nhất có nghề làm hoa vải lụa, Báo Đáp - Hồng Quang không ngừng đầu tư máy móc, trang thiết bị, nhân lực phân đấu tăng giá trị sản xuất sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường, từng bước xây dựng nông thôn mới theo đúng các tiêu chí chung của nhà nước đề ra.
[11] Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, nhưng môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng.
Theo kết quả đánh giá ô nhiễm tại 63 làng nghề do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định tiến hành, các loại hình sản xuất cơ khí, dệt may, tẩy nhuộm, thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, chế biến lương thực-thực phẩm đang gây ảnh hưởng nhiều nhất đến môi trường. Các kết quả quan trắc cho thấy thông số BOD5, COD, tổng N và tổng P tại nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh đều vượt 1 ngưỡng cho phép từ 2 đến 7 lần, trong khi thông số NH3 trong không khí vượt từ 1,5 đến hơn 13 lần, chất thải rắn không được thu gom xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. [12] Báo Đáp là một trong những làng nghề truyền thống của huyện Nam Trực với việc sản xuất hoa vải lụa, đèn ông sao. Hiện nay, theo quyết định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện Nam Trực và tỉnh Nam Định, Báo Đáp đang dần mở rộng quy mô theo hướng công nghiệp hóa sử dụng máy móc tự động nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tăng công suất làm việc.
Khi quá trình sản xuất phát triển thì chất thải cũng không ngừng gia tăng cả về thành phần, số lượng, mức độ độc hại…lại càng gây áp lực đến môi trường. Do đặc thù ngành nghề, làng Báo Đáp đang bị ô nhiễm bởi vấn đề CTR, khi vào thời gian cao điểm của sản xuất hàng hóa, lượng CTR sản xuất phát sinh từ 100-200 kg/hộ/ngày vải vụn, giấy, nilon các loại, mùi hóa chất nồng nặc từ vải và keo nến. Mặt khác, công tác quản lý CTR còn nhiều bất cập, rác thải chưa được phân loại, thu gom và xử lý triệt để, chủ yếu là các bãi rác tự phát, đốt lộ thiên do vậy ngày càng trở nên quá tải lan tràn xuống khu vực đất nông nghiệp gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Quản lý chất thải rắn cho làng nghề từ quá trình tái chế, phân loại đến khâu thu gom vận chuyển và xử lý là vấn đề cấp thiết đối với Báo Đáp.
Bởi vậy tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng phát sinh, đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn làng nghề sản xuất hoa vải lụa Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải rắn 1. Chất thải rắn và các khái niệm liên quan Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 Quy định về quản lý chất thải và phế liệu.
Khóa luận đưa ra một số khái niệm như sau: [8] Khái niệm về chất thải rắn Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn sử dụng. Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Khái niệm về quản lý chất thải rắn Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. Thu gom chất thải rắn Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm xử lý hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Lưu giữ chất thải rắn Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Vận chuyển chất thải rắn Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Phân loại chất thải rắn Phân loại chất thải rắn là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau. Phân loại và thành phần chất thải rắn Phân loại chất thải rắn Các loại chất thải rắn thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách: Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ… Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da , giẻ vụn, cao su, chất dẻo… Theo bản chất nguồn tạo thành: Chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau: Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả… Chất thải trực tiếp của người và động vật là phân.
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư. Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than. Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao… Theo mức độ nguy hại phân ra thành chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại. Thành phần chất thải rắn [15] Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.
Chất thải rắn nói chung là một khối hỗn hợp không đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần của chất thải rắn đô thị bao gồm mọi thứ chất liệu từ nhiều nguồn gốc khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố…) 4 Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau: Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ (50,27-62,22%) Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ… Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900 kcal/kg). Tác hại của chất thải rắn Tác hại của chất thải rắn đến môi trường [15] Môi trường đất Chât thải rắn nằm rải rác khắp nơi không được thu gom sẽ lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất.
Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa. Môi trường nước Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa các chất thải này sẽ theo dòng nước chảy và hòa lẫn trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều dầu mỡ có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước kém, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực. Ở các bãi chôn lấp rác thải chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận.
Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Môi trường không khí Các trạm hoặc bãi trung chuyển rác xen kẽ với khu vực dân cư là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xử lý rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác.