Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn sinh hoạt đang trở thành thách thức môi trường hàng đầu tại các vùng ven đô trong tiến trình đô thị hóa. Tại Việt Nam, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các khu vực đô thị đạt mức 12 triệu tấn mỗi năm và dự kiến chạm ngưỡng 20 triệu tấn vào năm 2020. Trên phạm vi Thủ đô Hà Nội, khối lượng rác thải sinh hoạt tăng bình quân 15% mỗi năm, trong khi tỷ lệ thu gom tại các huyện ngoại thành chỉ đạt khoảng 60%, thấp hơn rất nhiều so với mức 95% của các quận nội thành.

Huyện Gia Lâm với diện tích tự nhiên 116,71 km2 và dân số năm 2016 đạt 271.000 người (với 85,98% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn) đang chứng kiến tốc độ đô thị hóa và chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,3%/năm trong giai đoạn 2011-2016 kéo theo sự gia tăng áp lực chất thải sinh hoạt với mức phát sinh 0,81 kg/người/ngày và 3,33 kg/hộ/ngày. Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách khi toàn huyện phát sinh khoảng 230 tấn rác mỗi ngày nhưng chỉ thu gom được khoảng 150 tấn/ngày. Hạ tầng quản lý thiếu đồng bộ với vỏn vẹn 47 điểm tập kết rác theo quy hoạch đối mặt cùng hàng trăm điểm tập kết tự phát gây ô nhiễm nguồn nước và đất.

Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 5/2016 đến tháng 4/2017, sử dụng dữ liệu thống kê từ năm 2014 đến 2016 trên địa bàn huyện Gia Lâm. Mục tiêu cốt lõi của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý, phấn đấu nâng tỷ lệ thu gom đạt trên 90% và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản lý nhà nước về môi trường và mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn (Integrated Solid Waste Management - ISWM). Luận văn vận dụng khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, trọng tâm là Nghị định số 59/2007/NĐ-CP và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu. Khung phân tích tập trung vào các công cụ quản lý nhà nước chính: công cụ pháp luật (hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chế tài xử phạt), công cụ kinh tế (phí vệ sinh môi trường, thuế môi trường, trợ cấp ngân sách) và công cụ tuyên truyền giáo dục xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật cốt lõi:

  • Quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt: Quá trình tác động có tổ chức và mang quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh các hành vi phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
  • Chất thải rắn sinh hoạt: Các chất thải ở thể rắn phát sinh từ sinh hoạt thường ngày của con người tại hộ gia đình, cơ quan, khu công cộng, được chia thành 3 nhóm kỹ thuật theo quy chuẩn (nhóm hữu cơ dễ phân hủy, nhóm tái chế/tái sử dụng, và nhóm còn lại).
  • Phân loại rác tại nguồn: Biện pháp chia tách dòng chất thải ngay tại nơi phát sinh nhằm tối ưu hóa chi phí thu gom và hiệu quả tái chế.
  • Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường: Cơ chế huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế tư nhân, hợp tác xã và cộng đồng dân cư tham gia cung ứng dịch vụ môi trường theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

Nghiên cứu cũng kế thừa các bài học kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu như mô hình thiêu đốt thu hồi năng lượng khép kín tại Singapore với tỷ lệ đô thị hóa 100%, hệ thống phân loại 3 dòng rác nghiêm ngặt của Nhật Bản theo Luật Xúc tiến tài nguyên tái chế năm 1992, cùng các mô hình thực tiễn thành công trong nước như mô hình Hợp tác xã dịch vụ môi trường tại huyện Quế Võ (Bắc Ninh) và mô hình quản lý rác dân lập tại huyện Bình Chánh (Thành phố Hồ Chí Minh).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên (chọn điểm điển hình) với tổng cỡ mẫu khảo sát sơ cấp gồm 180 đối tượng, bao gồm: 150 hộ gia đình sinh sống tại địa phương và 30 nhân viên thuộc các tổ đội vệ sinh môi trường trực tiếp thu gom rác. Cỡ mẫu này được phân bổ đều tại 3 địa bàn đại diện cho các đặc thù kinh tế - địa lý của huyện: Thị trấn Trâu Quỳ (đại diện cho khu vực đô thị hóa nhanh, mật độ dân số cao), xã Ninh Hiệp (đại diện cụm Bắc Đuống với làng nghề buôn bán và thương mại sầm uất) và xã Đa Tốn (đại diện cụm Nam Đuống với khu vực dân cư nông thôn đang chuyển đổi dịch vụ). Việc lựa chọn 3 địa bàn đại diện giúp phản ánh chính xác sự phân hóa về khối lượng phát sinh rác thải từ 0,7 kg/người/ngày ở vùng nông thôn thuần túy đến hơn 1,1 kg/người/ngày tại các khu vực thương mại làng nghề.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện trong giai đoạn 2014-2016 từ Niên giám thống kê huyện Gia Lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê huyện và Công ty Môi trường Đô thị Gia Lâm. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua bảng hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và quan sát thực địa. Toàn bộ dữ liệu được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả (tính toán các chỉ tiêu tổng hợp, số tuyệt đối, số tương đối, tỷ trọng phần trăm) kết hợp thống kê phân tích dãy số thời gian là nhằm phản ánh khách quan xu hướng biến động khối lượng chất thải qua từng năm, chỉ rõ tương quan giữa tốc độ tăng dân số với lượng rác phát sinh, đồng thời lượng hóa chính xác hiệu quả vận hành của bộ máy quản lý nhà nước thông qua các chỉ tiêu về tỷ lệ thu gom, số vụ xử phạt hành chính và mức độ bao phủ dịch vụ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn huyện Gia Lâm đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tăng nhanh vượt quá năng lực thu gom. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh thực tế trên địa bàn huyện lên tới 230 tấn/ngày. Tuy nhiên, Công ty Môi trường Đô thị Gia Lâm theo mô hình chuyên quản chỉ thu gom được khoảng 150 tấn/ngày, tương đương tỷ lệ thu gom mới đạt 65,21%. Khối lượng rác thải bình quân của mỗi hộ gia đình đạt 3,33 kg/hộ/ngày, trong đó thành phần chất thải hữu cơ chiếm tỷ trọng áp đảo từ 50% đến 65% tổng khối lượng rác.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật phục vụ lưu chứa và trung chuyển chất thải vừa thiếu vừa không đạt chuẩn. Toàn huyện Gia Lâm hoàn toàn chưa có quy hoạch trạm trung chuyển rác chuyên dụng. Trong số các điểm tập kết, toàn huyện chỉ có 47 điểm tập kết rác nằm trong quy hoạch chính thức của địa phương, trong khi có tới hơn 120 điểm tập kết rác tự phát tại các khu đất trống ven đê, bờ kênh mương thuộc sông Cầu Bây và sông Bắc Hưng Hải, gây ô nhiễm nghiêm trọng cảnh quan môi trường.

Thứ ba, công nghệ xử lý chất thải lạc hậu, gây áp lực lớn lên ngân sách địa phương. Khoảng 75% (3/4) lượng rác thải thu gom của huyện phải vận chuyển đi xử lý tại Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn (huyện Sóc Sơn) và 25% (1/4) xử lý tại bãi rác Kiêu Kỵ trên địa bàn huyện. Cả hai khu xử lý này đều phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp chôn lấp truyền thống, tốn diện tích đất đai và phát sinh nguy cơ rò rỉ nước rỉ rác. Hàng năm, ngân sách nhà nước cấp huyện phải chi trả khoảng 1,7 tỷ đồng để hỗ trợ đền bù môi trường cho các hộ dân sinh sống quanh vùng ảnh hưởng của bãi rác Kiêu Kỵ.

Thứ tư, công tác thanh tra, xử phạt vi phạm và phân loại tại nguồn gần như chưa phát huy tác dụng. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ rác thải được phân loại đúng quy chuẩn tại hộ gia đình bằng 0%, do toàn bộ rác sau đó vẫn bị thu gom lẫn lộn vào các xe gom đẩy tay chuyên dụng. Năm 2016, lực lượng chức năng toàn huyện chỉ kiểm tra và xử phạt được 25 vụ vi phạm quy định vệ sinh môi trường với tổng số tiền xử phạt hành chính là 67 triệu đồng, một con số quá nhỏ bé so với hàng nghìn hành vi xả rác bừa bãi diễn ra thường nhật.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả dữ liệu qua đồ thị diễn tiến giai đoạn 2014-2016, có thể thấy rõ mối tương quan đồng biến giữa mức tăng trưởng kinh tế (10,92%/năm) với khối lượng phát thải rác sinh hoạt. Bảng tổng hợp cơ cấu kinh tế năm 2016 thể hiện khu vực Công nghiệp - Xây dựng chiếm 50,78% và Thương mại - Dịch vụ chiếm 37,88%, minh chứng cho việc các làng nghề truyền thống như gốm sứ Bát Tràng, da giày Kiêu Kỵ, vải Ninh Hiệp đang thúc đẩy lượng rác bao bì nilon, chất dẻo tăng từ 5,2% lên 8,9% trong thành phần rác thải.

So sánh với mô hình quản lý tại huyện Hòa Vang (Đà Nẵng), nơi áp dụng hiệu quả phong trào thôn tự quản không rác và phân cấp rõ ràng cho các xí nghiệp môi trường địa phương, mô hình chuyên quản đơn nhất của Công ty Môi trường Đô thị tại Gia Lâm bộc lộ sự quá tải. Khảo sát chỉ ra có tới 68% nhân viên vệ sinh môi trường chưa hài lòng với mức thu nhập bình quân khoảng 3,5 - 4,2 triệu đồng/tháng, dẫn đến tình trạng bỏ chuyến hoặc thu gom không đúng tần suất cam kết.

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ cơ chế tài chính bao cấp. Mức thu phí vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện áp dụng từ 3.000 đến 6.000 đồng/người/tháng chỉ bù đắp được khoảng 20-30% chi phí vận hành thực tế, phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước. Việc thiếu hụt chế tài giám sát tự động và thiếu trạm cân điện tử tại các điểm trung chuyển khiến công tác quản lý thất thoát khối lượng rác và làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm thứ cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Gia Lâm, 5 nhóm giải pháp chiến lược cần được thực hiện đồng bộ:

Thứ nhất, quy hoạch và chuẩn hóa hệ thống hạ tầng thu gom, trung chuyển. Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm cần chủ trì xây dựng đề án quy hoạch dứt điểm hệ thống hạ tầng: đảm bảo mỗi xã, thị trấn xây dựng tối thiểu 1 trạm trung chuyển rác kín đạt chuẩn vệ sinh và mỗi thôn có ít nhất 1 điểm tập kết rác có mái che và hệ thống thu gom nước rỉ rác. Mục tiêu hoàn thành 100% việc xóa bỏ các bãi tập kết tự phát trước năm 2020.

Thứ hai, triển khai bắt buộc mô hình phân loại rác tại nguồn và thu gom theo 2 dòng chất thải. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp cùng chính quyền 22 xã, thị trấn tổ chức cấp phát thùng rác tiêu chuẩn 2 màu (màu xanh cho chất thải hữu cơ dễ phân hủy, màu vàng cho chất thải vô cơ và tái chế) tới 100% hộ gia đình. Công ty Môi trường Đô thị phải cơ giới hóa phương tiện với các ngăn chứa riêng biệt, phấn đấu đạt tỷ lệ 70% rác thải sinh hoạt được phân loại chuẩn xác vào năm 2022.

Thứ ba, chuyển đổi công nghệ xử lý tại Bãi xử lý rác Kiêu Kỵ. Chuyển dần từ phương thức chôn lấp hở sang công nghệ chế biến phân hữu cơ vi sinh (compost) và công nghệ thiêu đốt thu hồi năng lượng hiện đại. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ rác thải phải chôn lấp xuống dưới 25% tổng khối lượng tiếp nhận, đồng thời cắt giảm chi phí hỗ trợ ô nhiễm hàng năm từ 1,7 tỷ đồng xuống dưới 500 triệu đồng.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ thu gom và điều chỉnh chính sách phí. Chuyển đổi mô hình thu gom từ cơ chế giao chỉ tiêu chuyên quản sang hình thức đấu thầu công khai cho các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia. Đồng thời, Hội đồng nhân dân huyện cần ban hành khung giá dịch vụ thu gom tính theo thể tích rác thải phát sinh nhằm tạo nguồn thu bền vững, nâng mức thu nhập của công nhân vệ sinh môi trường lên mức cạnh tranh 6 - 8 triệu đồng/tháng.

Thứ năm, tăng cường năng lực thanh tra và đưa tiêu chí vệ sinh môi trường vào bình xét thi đua. Đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thanh tra môi trường cấp huyện và xã; trang bị hệ thống camera giám sát tại các điểm đen rác thải; kiên quyết xử phạt nghiêm theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP với mức phạt tối đa đối với hành vi xả rác bừa bãi. Đưa tiêu chí phân loại rác thải tại nguồn thành chỉ tiêu bắt buộc để công nhận gia đình văn hóa, thôn làng văn hóa hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện ngoại thành trên cả nước, Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để xây dựng quy hoạch hạ tầng rác thải nông thôn, ban hành quy chế quản lý chất thải và xây dựng đề án xã hội hóa dịch vụ vệ sinh môi trường.
  2. Doanh nghiệp và hợp tác xã dịch vụ môi trường: Lãnh đạo các công ty môi trường đô thị, các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp - môi trường. Đơn vị có thể ứng dụng trực tiếp mô hình thu gom phân luồng 2 dòng chất thải, phương án tối ưu hóa tuyến vận chuyển và định mức kinh tế kỹ thuật trong thu gom rác ven đô.
  3. Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý tài nguyên môi trường, Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra chọn điểm phi ngẫu nhiên, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước và phân tích kinh tế chất thải.
  4. Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại địa phương: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tại các xã, thôn. Tài liệu cung cấp cơ sở luận cứ và các bài học tuyên truyền trực quan để tổ chức các chiến dịch toàn dân tham gia bảo vệ môi trường và triển khai mô hình tự quản đường làng ngõ xóm sáng - xanh - sạch - đẹp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đề tài luận văn này thuộc chuyên ngành nào và bảo vệ tại cơ sở đào tạo nào? Luận văn thuộc chuyên ngành Quản lý Kinh tế, mã số 60 34 04 10, được thực hiện bởi tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Viết Đăng và được bảo vệ thành công tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam vào năm 2017.

  2. Đặc thù phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Gia Lâm trong giai đoạn nghiên cứu là gì? Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại Gia Lâm có tính chất phân hóa mạnh theo không gian kinh tế: bình quân đạt 0,81 kg/người/ngày, tổng phát sinh 230 tấn/ngày. Trong đó rác hữu cơ chiếm trên 50-65% và rác thải thương mại, bao bì gia tăng đột biến tại các khu vực làng nghề như Ninh Hiệp, Bát Tràng.

  3. Vì sao công tác phân loại rác tại nguồn ở huyện Gia Lâm trong giai đoạn 2014-2016 chưa đạt hiệu quả? Thực tế điều tra cho thấy người dân thiếu kiến thức phân loại, thiếu trang thiết bị lưu chứa chuyên dụng, và quan trọng nhất là phương tiện thu gom của Công ty Môi trường Đô thị vẫn dồn chung tất cả các loại rác vào một xe đẩy, làm triệt tiêu động lực phân loại của người dân.

  4. Giải pháp công nghệ nào được đề xuất để thay thế việc chôn lấp rác tại Bãi rác Kiêu Kỵ? Tác giả đề xuất kết hợp hai công nghệ tiên tiến: công nghệ ủ sinh học yếm khí để chế biến chất thải hữu cơ thành phân bón vi sinh (compost) phục vụ nông nghiệp chuyên canh của huyện, kết hợp công nghệ đốt rác thu hồi năng lượng cho phần rác khó phân hủy nhằm giảm tỷ lệ chôn lấp xuống dưới 25%.

  5. Phương pháp chọn mẫu của luận văn có đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện khoa học không? Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên với 180 đối tượng khảo sát tại 3 địa bàn đại diện hoàn toàn đảm bảo tính khoa học: Thị trấn Trâu Quỳ đại diện cho vùng đô thị, xã Ninh Hiệp đại diện cho vùng Bắc Đuống với làng nghề thương mại, và xã Đa Tốn đại diện cho vùng Nam Đuống với kinh tế nông nghiệp chuyển dịch.

Kết luận

  • Công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2014-2016 đã đạt được những kết quả ban đầu nhưng vẫn tồn tại khoảng trống lớn khi tỷ lệ thu gom mới đạt khoảng 65,2% trên tổng số 230 tấn rác phát sinh mỗi ngày.
  • Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ thu gom còn yếu kém, toàn huyện hoàn toàn chưa có trạm trung chuyển đạt chuẩn và phải đối mặt với hơn 120 điểm tập kết rác tự phát gây ô nhiễm môi trường đất, nước nghiêm trọng.
  • Hoạt động xử lý rác phụ thuộc nặng nề vào phương pháp chôn lấp lạc hậu tại bãi rác Nam Sơn và Kiêu Kỵ, đòi hỏi ngân sách huyện phải hỗ trợ đền bù môi trường 1,7 tỷ đồng mỗi năm cho người dân vùng lân cận.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là việc đề xuất hoàn thiện quy hoạch hạ tầng theo hướng mỗi xã 1 trạm trung chuyển, thiết lập hệ thống thu gom phân luồng 2 dòng chất thải và chuyển đổi công nghệ xử lý sinh học compost kết hợp thiêu đốt.
  • Lộ trình giai đoạn 2018-2022 đòi hỏi huyện Gia Lâm triển khai đồng bộ việc xã hội hóa dịch vụ vệ sinh môi trường, chuẩn hóa định mức kinh tế kỹ thuật và nâng cao năng lực thanh tra, kiểm tra để xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới bền vững.

Các cơ quan quản lý, tổ chức kinh tế và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn diện các biểu bảng số liệu, bảng hỏi khảo sát và mô hình tổ chức bộ máy chi tiết trong toàn văn công trình nghiên cứu này để ứng dụng vào công tác thực tiễn tại địa phương.