PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam đã và đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng dân số không ngừng khiến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng và phổ biến dẫn tới suy thoái môi trường đất, nước và không khí. Đặc biệt tại các thành phố, đô thị lớn lượng chất thải nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng ngày càng tăng nhanh.
Hiện nay, trung bình mỗi ngày tại Việt Nam, chỉ tính riêng rác thải đô thị, một năm phát sinh 12 triệu tấn rác thải sinh hoạt và có xu hướng tăng, dự kiến đến năm 2020, lượng rác thải đô thị phát sinh là 20 triệu tấn/năm (Minh Cường, 2015). Chất thải rắn đang là mối đe dọa trực tiếp đến đời sống và sức khỏe của người dân; quản lý và xử lý rác thải đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, đặc biệt là rác thải rắn sinh hoạt. Theo báo cáo "Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn", Ngân hàng thế giới (2012) nhận định khối lượng rác thải ngày càng lớn đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu. Việc quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, từ cơ sở hạ tầng đến các hoạt động thu gom, xử lý còn rất lạc hậu.
Mặc dù số lượng các nhà máy đã xây dựng trạm xử lý chất thải tăng lên trong những năm gần đây nhưng hiện trạng ô nhiễm vẫn chưa được cải thiện. Phương pháp được sử dụng nhiều nhất để xử lý rác tại Việt Nam là phương pháp chôn lấp. Theo Cục Hạ tầng Kỹ thuật (2016), trên cả nước có 660 bãi chôn lấp rác với tổng diện tích hơn 4.900 ha, trong đó, có khoảng 70% các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao chỉ có 203 bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Các công nghệ xử lý rác của nước ngoài áp dụng tại Việt Nam cho thấy phần lớn đều không hiệu quả vì không phù hợp với đặc thù rác thải phức tạp, chưa phân loại đầu nguồn.
Tại thành phố Hà Nội, khối lượng rác sinh hoạt tăng trung bình 15% một năm, tổng khối lượng rác thải ra môi trường hàng ngày là là 5. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, các huyện ngoại thành 60%. Quá trình đô thị hóa cùng với việc mở rộng và phát triển thành phố Hà Nội đã tác động mạnh đến điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường các vùng ven đô, ngoại thành (Minh Cường, 2015). Gia Lâm là một huyện ngoại thành Hà Nội với vị trí địa lý và điều kiện giao thông thuận lợi, có tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiều khu đô thị mới mọc lên như Đặng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xá, Trâu Quỳ; nhiều tuyến đường được xây dựng, cải tạo nâng cấp như Quốc lộ 5b, đường 39b, đường Ngô Xuân Quảng, Cổ Bi.
Kinh tế - xã hội phát triển, dân số khá đông và tăng nhanh qua các năm, chất lượng cuộc sống của người dân ngày được cải thiện, nâng cao là nguyên nhân phát sinh lượng chất thải nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng trên địa bàn huyện ngày càng nhiều. Việc thu gom, xử lý rác thải chưa triệt để dẫn đến tình trạng nông thôn tràn ngập các loại rác thải từ túi nilon, vật liệu xây dựng,… gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Do đó, công tác đảm bảo vệ sinh môi trường được huyện hết sức quan tâm, chỉ đạo và coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế bền vững. Trong những năm qua, huyện Gia Lâm luôn nỗ lực trong việc áp dụng nhiều giải pháp nhằm quản lý chất thải rắn sinh hoạt, nhưng hoạt động này còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn.
Những khó khăn trong quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Gia Lâm chủ yếu như: thiếu quy hoạch tổng thể, đồng bộ; năng lực quản lý của các cán bộ quản lý còn yếu; việc quy hoạch khu vực thu gom, xử lý rác thải chưa hợp lý; các phương thức, công nghệ xử lý rác thải còn lạc hậu gây mất vệ sinh và lãng phí tài nguyên đất; cơ sở hạ tầng hạn chế, nhiều tuyến đường xe thu gom rác không thể vào được. Bên cạnh đó, ý thức của một bộ phận nhân dân vẫn còn kém, tình trạng vứt rác bừa bãi ra đường làng, ngõ xóm, ao hồ diễn ra thường xuyên, gây mất mỹ quan và dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, không khí. Do đó, tình trạng ô nhiễm rác thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc cần giải quyết trong thời gian tới. Trước thực trạng này cần có các giải pháp để việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Gia Lâm đạt hiệu quả, đúng theo khuôn khổ, đạt hiệu quả kinh tế và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường.
Chính vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội”. Để đạt được những mục đích nghiên cứu của đề tài, cần làm rõ các vấn đề sau: - Thứ nhất, quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt là gì? - Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đang diễn ra như thế nào? - Những giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Gia Lâm là gì? 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với chất thải rắn sinh hoạt. Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Gia Lâm. Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt và thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Đối tượng khảo sát bao gồm: - Các hộ gia đình sinh sống trên địa bàn huyện Gia Lâm; - Các tổ đội thu gom rác, hợp tác xã thu góp rác thải sinh hoạt tại huyện Gia Lâm; - Công ty môi trường đô thị Gia Lâm; - Bãi thu gom và xử lý rác thải Kiêu Kỵ trên địa bàn huyện Gia Lâm; - Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm; - Các tổ đội và công nhân thu gom rác tại các xã thuộc huyện Gia Lâm. Phạm vi nghiên cứu 1. Phạm vi không gian Đề tài được nghiên cứu tại huyện Gia Lâm.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phạm vi thời gian Thời gian thu thập số liệu: Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập từ các năm 2014, 2015 và 2016. Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 05/2016 đến tháng 04/2017. Phạm vi nội dung Những vấn đề về quản lý nhà nước về chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy Luận văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của quản lý chất thải mà chủ yếu đề cấp đến các vấn đề quản lý nhà nước liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN Đề tài đưa ra những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt huyện Gia Lâm. Đề tài đưa ra giải pháp thu gom theo 2 dòng chất thải rắn hữu cơ và vô cơ để tăng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được phân loại, tăng rác thải tái chế. Đề tài đưa ra giải pháp mới xử lý vi phạm về môi trường, các hình thức, nội dung tuyên truyền, giáo dục để tăng cường nhận thức, ý thức người dân và khuyến khích xã hội hóa công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 2. Khái niệm quản lý nhà nước a. Khái niệm quản lý Quản lý – thuật ngữ tiếng Anh là Management.
Trên thực tế có nhiều cách tiếp cận cũng như có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Trong đó, có một số quan điểm nổi bật như: - “Quản lý là sự tác động của củ chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường” (Nguyễn Tuấn Sơn, 2014). - “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan” (Phan Huy Đường, 2015). - Bên cạnh đó, có nhiều ý kiến nhận định rằng quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, quản lý là một tất yếu khách quan của quá trình xã hội hóa sản xuất.
Nhìn chung, Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra. Hay có thể tóm gọm lại: quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được. Khái niệm quản lý nhà nước Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý nhà nước.