MỞ ĐẦU Thuật ngữ chất thải nguy hại (CTNH) đƣợc pháp quy hóa chính thức ở nƣớc ta từ khi Nghị định 155/1999/NĐ-CP chính thức đƣợc ban hành năm 1999. Thuật ngữ này dần trở nên quen thuộc sau khi một loạt các văn bản hƣớng dẫn và triển khai đƣợc ban hành trong các năm tiếp theo, với các mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển và trƣởng thành là năm 2006 với Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT hƣớng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH và Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ban hành Danh mục CTNH kèm theo. Tiếp đó là thời điểm năm 2011 với sự ra đời của Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 quy định về quản lý CTNH trong đó đã tích hợp hai văn bản nêu trên và đƣợc thiết kế theo hƣớng tinh giảm thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Thủ tƣớng chính phủ. Đây là văn bản chủ chốt hiện đang đƣợc sử dụng để áp dụng rộng rãi trên cả nƣớc về quản lý CTNH.
Cùng với sự ra đời của Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT và Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT là một hệ thống các văn bản liên quan nhƣ QCVN 02:2008/BTNMT ban hành năm 2008 sửa đổi thành QCVN 02:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế; QCVN 07: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngƣỡng CTNH; QCVN 19: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ; QCVN 24: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nƣớc thải công nghiệp; QCVN 30: 2010/BTNMT ban hành năm 2010 và sửa đổi thành QCVN 30:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải công nghiệp. Chính từ sự phát triển của các văn bản hƣớng dẫn và sự nỗ lực triển khai trong toàn ngành tài nguyên nên chỉ trong vòng chính thức tám năm, công tác quản lý CTNH đã đạt đƣợc những kết quả ban đầu rất đáng ghi nhận trên toàn quốc. Tuy nhiên, trong thực tế quản lý, một vấn đề dễ nhận thấy là sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền cũng nhƣ các địa phƣơng trong công tác quản lý CTNH. Điều này phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phƣơng.
CTNH tập trung phát sinh chủ yếu tại các Vùng kinh tế trọng điểm trong 1 cả nƣớc và tƣơng ứng với nó là tại các tỉnh thành thuộc Vùng kinh tế trọng điểm. Cùng với sự phát triển mạnh việc công nghiệp hóa tại các tỉnh thành nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm thì lƣợng phát sinh CTNH tại địa phƣơng đó càng tăng cao và diễn biến phức tạp, đòi hỏi cơ sở vật chất để quản lý CTNH cũng nhƣ Cơ quan quản lý nhà nƣớc về CTNH tại địa phƣơng phải đƣợc xây dựng và vận hành khoa học, đáp ứng với nhu cầu phát triển nhanh và mạnh của lƣợng CTNH phát sinh. Trong thực tiễn, dù cùng đƣợc xây dựng và vận hành theo các quy định về quản lý CTNH tại Thông tƣ 12/2006/TT-BTNMT hay Thông tƣ 12/2011/TT-BTNMT, tuy nhiên, việc quản lý và áp dụng ở các địa phƣơng cũng có những đặc điểm rất riêng tùy theo mức độ phát triển và nhu cầu quản lý của từng địa phƣơng. Có thể đơn cử ra các địa phƣơng phát triển mạnh về công nghiệp nhƣ Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Long An, Đồng Nai, Bình Dƣơng (thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam…) hay Hƣng Yên, Hải Dƣơng, Hà Nội, Hải Phòng….thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Tại các tỉnh này vai trò và mức độ yêu cầu về quản lý CTNH của các cơ quan quản lý đã và đang đƣợc thể hiện rõ rệt. Có thể nói Cơ quan quản lý về môi trƣờng ở các địa phƣơng này lớn mạnh hơn hẳn về quy mô tổ chức cũng nhƣ kinh nghiệm quản lý và tiềm lực phát triển so với các địa phƣơng kém phát triển về kinh tế và công nghiệp khác của cả nƣớc. Sự phát triển, kinh nghiệm xây dựng và quản lý CTNH tại các địa phƣơng này sẽ là những bài học quý báu và là mô hình hay để học tập và rút kinh nghiệm trong việc quản lý CTNH của các địa phƣơng khác nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các địa phƣơng cũng nhƣ cả nƣớc trong tƣơng lai gần. Bình Dƣơng là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với tốc độ phát triển công nghiệp hóa nằm trong nhóm dẫn đầu của cả nƣớc, do đó, mô hình quản lý, những bài học kinh nghiệm và những yêu cầu, thách thức trong công tác quản lý CTNH tại tỉnh Bình Dƣơng là rất đáng quan tâm.
Từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, cho thấy đề tài “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý CTNH tại các KCN tỉnh Bình Dƣơng” là nghiên cứu cần thiết, sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về công tác quản lý CTNH tại tỉnh Bình Dƣơng để từ đó đƣa ra các đánh giá nhằm tăng cƣờng đƣợc năng lực quản 2 lý công nghiệp nguy hại trên địa bàn tỉnh hƣớng tới mô hình quản lý CTNH hiệu quả có thể nhân rộng trong cả nƣớc. Luận văn đƣợc trình bày theo các chƣơng, phần nhƣ sau: - Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu; - Chƣơng 2. Địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3.
Kết quả nghiên cứu; - Chƣơng 4. Kết luận và kiến nghị; - Tài liệu tham khảo. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về CTNH 1.
Các khái niệm về chất thải và CTNH Chất thải, CTNH, quản lý CTNH là gì? Cơ quan Thống kê Liên hợp Quốc (United Nations Statistics Division – UNSD, 1997) đƣa ra một định nghĩa đầy đủ và chi tiết về chất thải: “Chất thải là những vật chất không phải là sản phẩm chính yếu (tức là không phải sản phẩm sản xuất dành cho thị trường) mà người phát sinh ra chúng không có bất kỳ một mục đích sử dụng nào khi sản xuất, chuyển hóa hoặc sử dụng chúng, và người đó muốn thải bỏ/tiêu hủy chúng. Chất thải có thể phát sinh từ quá trình khai thác nguyên liệu thô, chế biến nguyên liệu thô thành sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, và các hoạt động khác của con người. Những chất dư thừa được tái chế hoặc tái sử dụng ngay tại nơi phát sinh thì không tính là chất thải”. Cộng đồng châu Âu (EU), trong Chỉ thị Khung về Chất thải (75/442/EC, đã sửa đổi), chất thải đƣợc định nghĩa là vật mà ngƣời nắm giữ chúng thải bỏ, có ý thải bỏ hoặc đƣợc yêu cầu phải thải bỏ.
Khi một chất hoặc một vật đã trở thành chất thải, nó sẽ vẫn là chất thải cho đến khi đƣợc thu hồi hoàn toàn và không còn gây bất cứ một mối nguy hại tiềm tàng nào đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Theo Luật Bảo vệ môi trƣờng (BVMT) năm 2005, “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Theo định nghĩa mới nhất tại Luật BVMT số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01.2015 thì chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.
Nhƣ vậy ta có thể thấy đƣợc định nghĩa hay các khái niệm liên quan tới chất thải, CTNH, quản lý chất thải hiện nay của nƣớc ta đã càng ngày càng chặt chẽ, cụ thể, quy định rõ các đối tƣợng bị quản lý, các hoạt động đƣợc phép của từng khái niệm. 4 CTNH là gì? Mỗi quốc gia có những khái niệm về CTNH cũng nhƣ danh mục và các quy định liên quan khác nhau. Nhƣng nhìn chung việc định nghĩa và phân loại đều dựa trên tính chất nguy hại và sử dụng bảng mã CTNH để phân loại và định tên CTNH. Theo Liên hiệp Châu Âu, tại Chỉ thị Hội đồng số 91/689/EEC, định nghĩa CTNH là chất thải đƣợc xác định thuộc danh sách tại Phụ lục I và II, và có ít nhất một đặc tính nhƣ trong Phụ lục III của Chỉ thị.
Đây là cách định nghĩa khá tƣơng đồng với định nghĩa của Công ƣớc Basel về ngăn ngừa việc vận chuyển CTNH xuyên biên giới và các hoạt động tiêu hủy chúng mà Việt Nam là thành viên từ năm 1995. Cục BVMT Mỹ (US EPA, 2010), định nghĩa CTNH là “Chất thải có tính chất nguy hiểm hoặc nguy hiểm tiềm tàng đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. CTNH có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc bùn. Chúng có thể là sản phẩm thƣơng mại bị thải bỏ nhƣ dung dịch tẩy rửa hoặc thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), hoặc là phụ phẩm của quá trình sản xuất”.
Theo Luật BVMT 2005: “CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Theo Luật BVMT 2014: “CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”. Định nghĩa trong Luật BVMT 2014 và Luật BVMT 2005 không thay đổi về khái niệm CTNH, nhƣ vậy nhìn chung, khái niệm CTNH hiện nay đã phản ánh, bao hàm đầy đủ bản chất của CTNH và phù hợp trong điều hiện nay qua thời gian dài. Vì vậy, ta thống nhất sử dụng định nghĩa của Luật BVMT làm định nghĩa chung cho khái niệm CTNH trong luận án.
Đồng thời, cũng trong phạm vi của luận án, CTNH đƣợc đề cập là CTNH phát sinh từ hoạt động trong các khu công nghiệp ở dạng rắn, bùn. Các tính chất và thành phần nguy hại của CTNH Định nghĩa của Luật BVMT 2005, Luật BVMT 2014 đã cụ thể các tính chất của CTNH, đó là “độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Tại Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 5 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ TN&MT Quy định về Quản lý CTNH, các tính chất nguy hại chính đƣợc cụ thể tại Phụ lục 8: - Tính dễ nổ: Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trƣờng xung quanh.