CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG I.1 Tổng quan tình hình quản lý và phát triển tài nguyên nước lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam I.1 Khái niệm và từ ngữ: Các khái niệm, từ ngữ liên quan đến tài nguyên nước(TNN), lưu vực sông (LVS) trong báo cáo thống nhất theo Luật Tài nguyên nước ngày 20/5/1998 và Nghị định 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008 về quản lý lưu vực sông, như sau : “Tài nguyên nước” theo quy định của Luật TNN, bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển (ven bờ) thuộc lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam. "Lưu vực sông" là vùng đất mà từ đó nước mưa, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông. "Nguồn nước" chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng được, bao gồm: sông, suối, kênh, rạch; biển, hồ đầm, ao; các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác. "Nguồn nước quốc tế" bao gồm các nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang lãnh thổ các nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng.
"Lưu vực sông quốc tế" là lưu vực sông có một hay nhiều nguồn nước quốc tế. "Phát triển tài nguyên nước" là mọi hoạt động nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững và nâng cao giá trị tài nguyên nước. "Khai thác nguồn nước" là các hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước. "Sử dụng tổng hợp nguồn nước" là sử dụng hợp lý, phát triển mọi tiềm năng của một nguồn nước và hạn chế các tác hại do nước gây ra để phục vụ cho nhiều mục đích.
"Vùng bảo hộ vệ sinh nguồn nước" là vùng phụ cận nguồn nước được quy định để bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng của nguồn nước dùng cho sinh hoạt. "Ô nhiễm nguồn nước" là sự làm thay đổi các tính chất vật lý, hoá học và thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép. "Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước" là sự suy giảm về chất lượng và số lượng nước của nguồn nước. "Quy hoạch lưu vực sông" là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước, phát triển tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông.
"Công trình thuỷ lợi" là các công trình khai thác mặt lợi của nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra và bảo vệ môi trường sinh thái. "Hệ thống công trình thuỷ lợi" bao gồm các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. "Phân lũ, chậm lũ" là việc chủ động chuyển một phần dòng nước lũ theo hướng chảy khác, tạm chứa lại ở một khu vực để giảm mức nước lũ. "Nhóm lưu vực sông" là tập hợp các lưu vực sông gần nhau về mặt địa lý.
Danh mục lưu vực sông" là tập hợp các lưu vực sông được phân loại dựa trên các tiêu chí về tầm quan trọng, quy mô diện tích lưu vực, chiều dài các căn cứ khác. "Danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông" là cơ sở dữ liệu tổng hợp các đặc trưng thống kê của một lưu vực sông, bao gồm: Vị trí tình trạng khai thác, sử dụng nước, xả nước thải, các đặc điểm về kinh tế - xã hội, các đặc trưng về môi trường. "Kế hoạch phòng, chống ô nhiễm môi trường nước và phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm " là nội dung bao gồm các biện pháp quản lý, phương án đầu tư và tiến độ triển khai các hoạt động cụ thể nhằm bảo đảm mục tiêu chất lượng nước đã xác định trong quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước. "Kế hoạch điều hoà, phân bổ tài nguyên nước" là nội dung bao gồm các biện pháp quản lý, phương án đầu tư và tiến độ triển khai các hoạt động cụ thể nhằm bảo đảm điều hoà, phân bổ tài nguyên nước theo mức phân bổ, tỷ lệ đã xác định trong quy hoạch phân bổ tài nguyên nước để đáp ứng sử dụng của các đối tượng sử dụng nước.
"Dòng chảy tối thiểu" là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng sông hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thuỷ sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng theo thứ tự ưu tiên đã được xác định trong quy hoạch lưu vực sông. - Khái niệm về quản lý tổng hợp: Trong phương pháp quản lý này, lưu vực sông được lấy làm cơ sở và xem đó là một hệ thống thống nhất, trong đó có những tác động qua lại giữa các tài nguyên (nước, đất, rừng, các hệ sinh thái.) và con người. Phương pháp này nhằm quản lý lưu vực sông như một thực thể với những mục đích bảo vệ toàn bộ năng suất của các nguồn tài nguyên trong một thời gian lâu dài, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường của lưu vực sông. Có nhiều cách định nghĩa về quản lý tổng hợp lưu vực sông, nhưng có thể hiểu đây là một khái niệm rộng gắn với các kế hoạch, chính sách và hoạt động nhằm kiểm soát nguồn nước, tài nguyên và môi trường cũng như các quá trình liên quan trong một lưu vực nhất định.
Như vậy, quản lý tổng hợp lưu vực sông hay quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lưu vực sông là sự hợp tác trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên lưu vực một cách hợp lý, công bằng để đạt được lợi ích kinh tế và xã hội mà không làm tổn hại đến sự bền vững của hệ sinh thái.2 Kinh nghiệm tổ chức quản lý lưu vực sông của một số nước Hiện nay, do nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, nhiều quốc gia đã nỗ lực nâng cao hiệu quả sử dụng nước. Trong nỗ lực đó, quản lý tổng hợp được coi như là một giải pháp và lưu vực được xem như là một đơn vị quản lý đối với các nguồn tài nguyên đất, nước và các nguồn tài nguyên khác. Phân bố tài nguyên nước trên thế giới Trên phạm vi lục địa, trữ lượng nước mặt bao gồm nước băng tuyết ở các địa cực và các vùng núi cao xứ hàn đới (98,83%), nước hồ (1,15%), nước đầm lầy (0,015%) và nước sông (0,005%). Về khối lượng nước băng tuyết chiếm tỷ lệ tuyệt đối lớn (99%) và nếu giả thiết khối băng hà tan thành nước thì mực nước đại dương có thể dâng lên 66,4 m.
Lượng nước băng tuyết bằng tổng lượng dòng chảy sông trong 600 năm. Tuy nhiên, trong thực tế băng hà nằm ở khu vực giá lạnh vĩnh cửu, nên khả năng sử dụng chúng còn rất hạn chế. Ngược lại, nước sông và hồ tuy chiếm tỷ lệ diện tích rất nhỏ (1,2%), song do tham gia vào chu trình tuần hoàn vận động rất tích cực nên chúng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của con người. Sơ bộ ước tính có 2,8 triệu hồ tự nhiên, trong đó 145 hồ có diện tích trên 100 km2/1 hồ.
Tổng dung tích hữu ích của hồ nhân tạo ước tính gần 5. Nước đầm lầy ước tính 11.470 km3 với tổng diện tích 2. Nước sông luôn vận động và tuần hoàn, nên nhanh chóng được phục hồi. Nhờ vậy, tuy thể tích chứa của các sông ước tính chỉ bằng 1.200 km 3, nhưng lượng dòng chảy sông phong phú hơn nhiều tới 41.500 km3/năm, có nghĩa là dòng sông đã tái hồi trung bình 34,6 lần trong mỗi năm.
Điều này cho phép tăng đáng kể khả năng khai thác dòng sông cho các mục tiêu sử dụng khác nhau. Đặc biệt nổi bật của dòng chảy sông là sự phân bố rất không đều theo thời gian và không gian theo vùng lãnh thổ, xem lượng dòng chảy của một số nước (bảng 1) Bảng 1: Lượng dòng chảy của một số nước Lượng dòng chảy bình quân năm Diện tích Bình quân Bình quân Tỷ lệ TT Tên nước Tổng số (103km2 diện tích đầu người toàn cầu (km3) 3 2 3 (103m /km ) (103m /ng (%) 1 Braxin 8.248 102,1 0,98 8 Pháp 551 183 332 3,7 0,4 9 PhÇn Lan 337 110 326 23,1 0,2 10 ViÖt Nam 327 300,4 917 5,60 0,7 Toµn cÇu 148.500 279 9,02 100 (Nguồn Iso Standards Handô K 16) Sự phân bố dòng chảy không đều theo thời gian và vùng lãnh thổ là đặc trưng phổ biến đối với nhiêù nước, trong đó có Việt Nam. Về trữ lượng nước ngầm hiện nay mới chỉ đánh giá ở mức tương đối, vì đó là một nội dung khá phức tạp, một mặt do mối quan hệ qua lại hữu cơ giữa nước ngầm và nước mặt, mặt khác do khả năng khoan sâu còn hạn chế và tài liệu khoan còn ít. Căn cứ vào tài liệu của LHQ (UNCSCO) được thực hiện trong khuôn khổ chương trình: “thập kỷ quốc tế về thuỷ văn - địa chất” bắt đầu từ năm 1966, có thể sơ bộ đánh giá về trữ lượng nước ngầm trên toàn cầu như ở bảng 2: Bảng 2: Trữ lượng nước ngầm toàn cầu Khèi lưîng Møc ®é thøc hîp khi Ph¹m vi §é khoáng hoá (g/l) 3 3 (10 km ) thùc hiÖn Chñ yÕu nưíc nh¹t, §áp øng yêu cÇu ®èi víi §é s©u tíi 1.000 lưîng muèi hoµ tan nưíc sinh ho¹t vµ nưíc kh«ng quá 1 tưíi PhÇn lín lµ nưíc Cã thÓ dïng cho c«ng §é s©u tõ 1.000 ®Õn mÆn, víi lưîng muèi nghiÖp hoá häc, khi sö Kho¶ng 5.000 m hoµ tan tíi 30-100, dông cho sinh ho¹t hoÆc ®«i khi ®Õn 300-400 tưíi cÇn ph¶i lµm nh¹t Tæng các lo¹i theo 60.2 Tổng quan quản lý tài nguyên nước lưu vực sông trên thế giới Quản lý tài nguyên nước, lưu vực sông trên thế giới rất đa dạng, nhưng tại tất cả các nước đều có những tổ chức được lập để quản lý nước.
Mỗi nước áp dụng những loại hình tổ chức quản lý lưu vực sông (LVS) khác nhau như Mỹ, Úc, châu Âu, Trung quốc … Để có được cách nhìn một cách tổng hợp chúng ta lần lượt xem xét một số loại hình tiêu biểu về quản lý LVS trên thế giới. Tổ chức LVS (RBOs)[24] được thành lập theo các nhu cầu khác nhau trên khắp thế giới, từ những năm đầu thế kỷ XX. Hiện nay có khoảng 261 lưu vực sông lớn trên thế giới thuộc diện sông Quốc tế hoặc sông liên bang. Viện Tài nguyên thế giới của Mỹ thống kê 106 lưu vực sông trên thế giới trong đó có sông Hồng Hà và sông Mê Kông của Việt Nam.
Năm 2005 trên mạng quốc tế của tổ chức lưu vực sông thông báo có 133 thành viên ở trên 50 nước khác nhau.