CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ QUY HOẠCH BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC 1.1 Tình hình nghiên cứu quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước trên thế giới Từ lâu, ở nhiều nơi trên thế giới đã chú ý đến việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn nước, quy hoạch tài nguyên nước hợp lý nhằm khai thác hợp lý và bảo vệ TNN. Theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, quy định “Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường”. Nước là một hợp phần của tài nguyên, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với môi trường và các hệ sinh thái, vì nó quyết định đến sự tồn tại, phát triển và đặc trưng của hệ. Đối với sự phát triển của xã hội, nước không những là điều kiện tiên quyết cho sự sống mà còn là nhân tố góp phần vào mọi quá trình của sự phát triển.
Nước là tài nguyên thiên nhiên (TNTN) đặc biệt được con người sử dụng cho nhiều mục đích và mức độ khác nhau từ quá khứ đến hiện tại và trong tương lai. Vì vậy, thế kỷ XXI nước được đánh giá là TNTN đứng thứ 2 sau tài nguyên con người. Từ đó, vấn đề đặt ra là nếu không sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên nước, cũng như không quản lý và khai thác hợp lý thì không thể có môi trường sinh thái lành mạnh và phát triển bền vững. Tài nguyên nước bao gồm nhiều loại và tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau.
Tuy nhiên, chú ý đặc biệt hơn cả là tài nguyên nước ngọt trên lục địa ở thể lỏng, bởi đây là nguồn nước được sử dụng trực tiếp cho mọi hoạt động. Như vậy, khi nói đến “Tài nguyên nước” trong luận văn là để chỉ tài nguyên nước ngọt. Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Tài nguyên nước Việt Nam năm 2012 quy định: “Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Luận văn vận dụng quan niệm tài nguyên nước theo Điều Luật này làm cơ sở nghiên cứu, tuy nhiên chỉ tập trung nghiên cứu tài nguyên nước mặt.
4 Theo Jean Burton (2003) cho thấy phát triển bền vững tài nguyên nước đòi hỏi trong khai thác, sử dụng cũng như quản lí nguồn nước phải đạt được các yêu cầu về bền vững, phải có quy hoạch sử dụng bảo vệ tài nguyên nước một cách hợp lý, có nghĩa: - tài nguyên nước phải được khai thác, sử dụng một cách hợp lí, không vượt quá giới hạn tiềm năng của nguồn nước, để nước có đủ khả năng hồi phục hay tái tạo theo chu trình thủy văn vốn có của thiên nhiên. - tài nguyên nước phải được sử dụng một cách tiết kiệm và thật sự hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người và hiệu quả sử dụng nước ngày càng cao. Nước thực sự trở thành nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế và quý giá. - tài nguyên nước phải được bảo vệ đặc biệt nhất là về mặt chất lượng.
Phải kiểm soát và hạn chế ô nhiễm nước, không thể để cho tình trạng ô nhiễm nước trở thành trầm trọng và lan rộng làm giảm lượng nước sạch của con người. - tài nguyên nước là của tất cả mọi người và mọi người đều có quyền sử dụng và có trách nhiệm bảo vệ nước. Vì thế, trong quản lí sử dụng nước phải đảm bảo tính cộng đồng và tính công bằng và phải có sự tham gia của tất cả các thành phần có liên quan trong xã hội, phải đóng góp cho sự phát triển xã hội. - Để thực hiện được yêu cầu của sự phát triển bền vững , các hệ thống công trình khai thác và sử dụng nguồn nước cũng phải là hệ thống bền vững.
Năm 1977, lần đầu tiên LHQ đưa vấn đề Nước lên diễn đàn Quốc tế, tại Hội nghị Mar Del Plata (Argentina) và đã nhấn mạnh về vấn đề quy hoạch nước sạch, vệ sinh và lấy thập kỷ 80 là “Thập kỷ Quốc tế nước sạch và Vệ sinh”. Sự kiện quốc tế quan trọng thể hiện mối quan tâm của các quốc gia, tổ chức trong vấn đề quản lý bền vững nguồn nước quý giá là từ năm 1993 thế giới đã chính thức lấy ngày 22/3 hàng 20 năm là “Ngày nước thế giới” và LHQ tổ chức thường niên “Tuần Nước Thế giới” từ ngày 5 - 11 tháng 9 hàng năm. Năm 1984, Viện quản lí nước quốc tế (International water management institute - IWMI) được thành lập, những nghiên cứu của IWMI giúp xác định sử dụng nước cho phát điện và những vấn đề có liên quan, mâu thuẫn và cân bằng như thế nào với an ninh lương thực và các hệ sinh thái, xem xét các giải pháp quy hoạch quản láy tài nguyên nước, phương án về công nghệ và điều hành để giảm thiểu hậu quả xấu tiềm ẩn trong phát triển thủy điện (IWMI, 2013). Với nhận thức nguy cơ thiếu nước ngọt là 5 trầm trọng và có thể dẫn tới các cuộc tranh chấp do việc quản lý khai thác, sử dụng nguồn nước không hợp lý làm cho nguồn nước bị suy thoái, do ô nhiễm và cạn kiệt, năm 2000 LHQ đã thiết lập “Mục tiêu thiên niên kỷ”.
Một trong những mục tiêu đó là “Phát triển quản lí tổng hợp nguồn nước và sử dụng nước có hiệu quả, giúp các nước đang phát triển thông qua hành động về nước ở tất cả mọi cấp”. Năm 2003 LHQ đã thành lập Ủy ban về nước của LHQ (UN-Water), để hỗ trợ các quốc gia trong nỗ lực liên quan đến nguồn nước của họ, nhằm đạt được các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Một số quốc gia đã sớm tiến hành nghiên cứu, đánh giá tài nguyên nước để thực hiện quy hoạch, quản lý bảo vệ tài nguyên nước hiệu quả và bền vững hơn, như: Ở Mỹ, vấn đề nghiên cứu, đánh giá và đi đến việc quy hoạch, quản lý bảo vệ tài nguyên nước đã được quan tâm rất sớm từ cuối thế kỷ XIX. Để thực hiện nhiệm vụ đó nhiều cơ quan quản lý nước và các Tổ chức liên quan đã được thành lập, như dọc theo sông Colorado có Cục Cải tạo vận hành đập, Ủy ban về các căn cứ khoa học quản lý nước LVS Colorado; Trên sông Ohio có Ban vệ sinh sông (ORSANCO) là một cơ quan liên bang có trách nhiệm về chất lượng nước dọc theo sông Ohio; Hiệp hội thượng lưu sông Mississippi (UMRBA)… (dẫn theo [69]), [122]).
Ở Pháp, Luật về nước được thiết lập rất sớm từ năm 1964, sau đó được bổ sung vào năm 1992 và 2006. Theo đó, chính sách về nước được xác định bởi nhà nước trong mối quan hệ đối tác với tất cả các cộng đồng địa phương, người sử dụng cho mục đích cá nhân, những ngành phát triển quy mô lớn, ngư dân, người nuôi trồng thủy sản, các hiệp hội bảo vệ thiên nhiên ở tất cả các cấp với quan điểm là tổ chức quản lý tài nguyên mang tính tổng thể nhằm đảm bảo đáp ứng cao nhất tất cả các nhu cầu trong khi vẫn tôn trọng các hệ sinh thái thủy sinh (Jean 2013). Tại Braxin, do các cụm đô thị lớn sử dụng nhiều nước và làm ô nhiễm nghiêm trọng.Để phục hồi chất lượng nước sông, tháng 9/1991 Braxin đã triển khai Dự án Sông Tiete. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Dự án là kiểm soát phát thải từ hoạt động công nghiệp, trên cơ sở phân tích hiện trạng chất lượng nước và thống kê các nguồn thải công nghiệp trong lưu vực sông… Từ đó, các tiêu chí kiểm soát được xác lập và quy trình kiểm soát nước thải công nghiệp trong lưu vực sông Tiete được đề xuất.
Ở Đông Nam Á, do hạn chế về nhiều mặt nên công tác nghiên cứu quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước diễn ra muộn hơn. Tuy nhiên, dưới sức ép của dân 6 số và sự cạn kiệt của tài nguyên nước, được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các quốc gia và các tổ chức, nên vấn đề nghiên cứu, quy hoạch, quản lý bảo vệ tài nguyên nước cũng đã được chú trọng gần đây và tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau: Ở Philipine xem cách tiếp cận quy hoạch, quản lý bảo vệ tài nguyên nước với sự tham gia của nhiều bên liên quan là mô hình lý tưởng để quản lý tổng hợp; Tại Indonesia từ 1989 đến 2009 đã thành lập 41 tổ chức lưu vực sông với hình thức, chức năng và nhiệm vụ đa dạng; Ở Thái Lan đã thành lập 25 ủy ban lưu vực sông có trách nhiệm lập quy hoạch, hình thành các dự án và thông qua kế hoạch phát triển lưu vực. Đặc biệt với sự hỗ trợ của máy tính điện tử, sự ra đời và ứng dụng các mô hình toán thủy văn vào quá trình nghiên cứu đã làm cho kết quả nghiên cứu TNN ngày càng tiện lợi, nhanh và chính xác hơn. Đó là sự ra đời rất sớm của mô hình Stanford Watershed Model (SWM) bởi Crawford và Linsley (1966), SWM là thử nghiệm đầu tiên cho việc mô hình hóa hầu như toàn bộ chu trình thủy văn và sau đó nhanh chóng phát triển nhiều mô hình như: mô hình NAM (1973), IHDM (1980), SWAT…Hệ thống mô hình GIBSI, là một hệ thống mô hình tổng hợp, mô hình cho các kết quả kiểm tra tác động của nông nghiệp, công nghiệp, quản lý nước cả về lượng và chất đến tài nguyên nước; Mô hình BASINS được xây dựng bởi Văn phòng Bảo vệ Môi trường của Hoa Kỳ, mô hình được xây dựng để đưa ra một công cụ đánh giá tốt hơn và tổng hợp hơn các nguồn phát thải tập trung và không tập trung trong công tác quản lý chất lượng nước trên lưu vực sông ; Mô hình hệ thống đánh giá và phát triển nguồn nước WEAP là mô hình kết hợp giữa việc mô phỏng hệ thống và các chính sách cần áp dụng cho LV, WEAP dựa trên nguyên tắc tính toán cân bằng giữa các nhu cầu của các dạng sử dụng nước, giá thành và hiệu quả của các công trình cấp nước và cơ sở phân bổ nguồn nước, với nguồn nước cung cấp bao gồm nước mặt, nước ngầm, nước hồ chứa và các vận chuyển nguồn nước.