Tổng quan nghiên cứu

Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì cân bằng sinh thái, điều hòa nguồn nước, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo động lực phát triển kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước có trên 14 triệu ha rừng vào năm 2018, gồm 10,2 triệu ha rừng tự nhiên và 3,8 triệu ha rừng trồng. Mặc dù tổng diện tích có xu hướng mở rộng nhưng chất lượng rừng tự nhiên tại nhiều vùng miền núi trọng điểm vẫn đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.

Huyện Tuyên Hóa là khu vực miền núi phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, sở hữu diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp lên tới 96.278,39 ha, chiếm 84,23% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Nơi đây sở hữu thảm thực vật nhiệt đới phong phú với nhiều loài gỗ quý như Lim xanh, Sến, Táu, Gụ cùng các loài động vật nguy cấp như Voọc Hà Tĩnh. Tuy nhiên, trước sức ép từ quy mô dân số 80.030 người và tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức 20,32% vào năm 2018, tài nguyên rừng địa phương chịu nhiều tác động tiêu cực từ nạn khai thác gỗ lậu, cháy rừng mùa khô và tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp.

Trước bối cảnh đó, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên rừng và thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2015–2018, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị bền vững. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ dữ liệu quan trọng giúp Hạt Kiểm lâm và chính quyền địa phương hoàn thiện phương án quản lý, duy trì độ che phủ rừng trên 75% và nâng cao tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt trên 12,62%/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management) do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc khởi xướng, nhấn mạnh sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: giá trị kinh tế, công bằng xã hội và tính bền vững sinh thái. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng và mô hình rừng cộng quản có sự tham gia, khẳng định vai trò then chốt của người dân bản địa trong việc bảo tồn và chia sẻ lợi ích từ rừng.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, bao gồm: phân định chức năng ba loại rừng trên địa bàn gồm rừng sản xuất (65.027,49 ha), rừng phòng hộ (31.200,51 ha) và rừng đặc dụng (509,42 ha); quy chế quản lý bảo vệ rừng; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP và kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình tiếp cận hệ thống, kết hợp chặt chẽ giữa tổng hợp dữ liệu thứ cấp và điều tra thực địa sơ cấp trong giai đoạn 2015–2018:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Điều tra xã hội học được thực hiện trên cỡ mẫu 150 hộ gia đình sinh sống gần rừng tại các xã trọng điểm lâm nghiệp gồm Thạch Hóa, Ngư Hóa, Thanh Hóa, Sơn Hóa và Cao Quảng. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo 3 nhóm kinh tế gồm hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo dựa trên danh sách phân loại của UBND xã. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 25 cán bộ kiểm lâm địa bàn và lãnh đạo địa phương thuộc hệ thống 511 nhân sự làm công tác quản lý bảo vệ rừng toàn huyện.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp kế thừa từ chuỗi số liệu khí tượng thủy văn, báo cáo kiểm kê rừng hàng năm của Hạt Kiểm lâm Tuyên Hóa, số liệu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Niên giám thống kê huyện Tuyên Hóa năm 2018.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Dữ liệu định lượng được xử lý thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Excel 2013 và SPSS nhằm lượng hóa chính xác các biến động về diện tích và trữ lượng rừng. Phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) kết hợp sơ đồ thể chế Veen được lựa chọn nhằm nhận diện rõ các nút thắt trong công tác quản lý, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi, sát thực tế địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu diện tích đất lâm nghiệp rất lớn nhưng phân cấp quản lý còn nhiều khoảng trống. Toàn huyện có 96.278,39 ha đất lâm nghiệp, chiếm 84,23% diện tích tự nhiên. Trong đó, hộ gia đình cá nhân quản lý 47.976,78 ha (chiếm 49,83%), Ban Quản lý rừng phòng hộ quản lý 29.432,62 ha (chiếm 30,23%), nhưng UBND các xã vẫn đang tạm quản lý tới 17.432,62 ha (chiếm 18,10%). Đáng chú ý, toàn huyện còn hơn 11.000 ha đất trống đồi núi trọc nằm trong quy hoạch lâm nghiệp chưa được khai thác phủ xanh.

Thứ hai, trữ lượng rừng tự nhiên chiếm tỷ trọng áp đảo nhưng phẩm cấp rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Tổng trữ lượng gỗ toàn huyện đạt 6.559.310 m3, trong đó rừng tự nhiên lá rộng chiếm 6.308.773 m3 (tương đương 96,35% tổng trữ lượng), bình quân đạt 84,01 m3/ha. Tuy vậy, diện tích rừng giàu chỉ còn vỏn vẹn 486,11 ha (chiếm chưa đầy 2% diện tích rừng tự nhiên), phần lớn là rừng trung bình (24.363 ha) và rừng nghèo kiệt (trên 15.000 ha). Rừng trồng đạt diện tích 6.242 ha với trữ lượng 250.537 m3 (chiếm 3,65%).

Thứ ba, tình hình cháy rừng và vi phạm lâm luật tiềm ẩn nhiều phức tạp. Trong giai đoạn 2015–2018, huyện xảy ra 27 vụ cháy rừng làm thiệt hại 46,1 ha (gồm 44 ha rừng trồng và 2,1 ha rừng tự nhiên), đỉnh điểm là năm 2018 với 11 vụ cháy gây thiệt hại 17,5 ha. Lực lượng chức năng cũng đã phát hiện và xử lý 72 vụ vi phạm mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu 61,95 m3 gỗ, 59,5 kg động vật rừng và thu nộp ngân sách nhà nước 2.601,577 triệu đồng.

Thứ tư, lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng và thiếu chứng chỉ chuyên môn. Hệ thống bộ máy gồm 38 tổ chức với 511 người, tuy nhiên có đến 300 người chưa qua đào tạo chuyên ngành lâm nghiệp (chiếm trên 58%). Cơ sở vật chất PCCCR rất thô sơ, toàn huyện chỉ được trang bị 2 máy bơm nước chữa cháy và 4 máy cưa xăng.

Thảo luận kết quả

Khi trực quan hóa dữ liệu nghiên cứu, biểu đồ cột phân bố cháy rừng theo thời gian phản ánh tính quy luật rõ nét: các vụ cháy tập trung cao điểm từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm, trong đó riêng tháng 7 chiếm tới 14 vụ (tương đương 51,85% tổng số vụ). Nguyên nhân do khí hậu Tuyên Hóa chịu tác động trực tiếp của gió phơn Tây Nam khô nóng với nhiệt độ vượt 40–42°C, kết hợp với tập quán đốt thực bì thiếu kiểm soát của người dân tại các vùng trồng thông và keo.

Bảng ma trận phân loại chủ quản lý rừng cho thấy diện tích do UBND xã tạm quản lý chiếm tỷ lệ lớn (18,10%) nhưng thiếu lực lượng chuyên trách, tạo ra kẽ hở dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại các xã Ngư Hóa, Cao Quảng và Kim Hóa. Mặc dù số vụ vi phạm lâm sản đã giảm từ 26 vụ năm 2015 xuống 16 vụ năm 2018 nhờ kiểm lâm tăng cường chốt chặn, nhưng áp lực mưu sinh của 20,32% hộ nghèo vẫn là thách thức lớn. Phát hiện này tương đồng với các nghiên cứu lâm nghiệp cộng đồng trước đây tại miền Trung, khẳng định việc giao đất rừng chỉ thực sự bền vững khi đi liền với chính sách tạo sinh kế và khuyến lâm tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại huyện Tuyên Hóa, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đẩy mạnh giao đất giao rừng và phủ xanh đất trống: UBND huyện Tuyên Hóa phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình tiến hành rà soát, bàn giao dứt điểm 17.432,62 ha đất lâm nghiệp do UBND xã tạm quản lý sang cho các hộ gia đình và cộng đồng thôn bản; đặt mục tiêu giảm diện tích đất trống quy hoạch lâm nghiệp từ trên 11.000 ha xuống dưới 4.000 ha vào năm 2025; lộ trình thực hiện từ năm 2020 đến 2023.
  2. Hiện đại hóa năng lực phòng cháy chữa cháy rừng: Hạt Kiểm lâm Tuyên Hóa chủ trì nâng cấp phương án 4 tại chỗ; mở rộng hệ thống đường băng cản lửa vượt mức 24 km hiện tại, xây dựng mới 2 chòi canh lửa tại các xã có nguy cơ cháy cao như Kim Hóa, Ngư Hóa và trang bị bổ sung ít nhất 10 máy bơm công suất lớn; mục tiêu khống chế diện tích cháy rừng bình quân dưới 3 ha/năm; triển khai đồng bộ hàng năm trước tháng 5.
  3. Chuẩn hóa nghiệp vụ lực lượng bảo vệ rừng cơ sở: UBND huyện và Chi cục Kiểm lâm tổ chức các lớp đào tạo chuyên môn về lâm sinh, luật lâm nghiệp và kỹ năng ứng dụng định vị GPS/GIS cho 300 nhân sự chưa qua đào tạo trong tổng số 511 cán bộ quản lý bảo vệ rừng toàn huyện; mục tiêu đạt 100% nhân sự thuộc 38 tổ đội cơ sở có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên ngành vào năm 2022.
  4. Phát triển mô hình kinh tế dưới tán rừng và chi trả dịch vụ môi trường: Ban Quản lý rừng phòng hộ cùng chính quyền các xã đẩy mạnh triển khai mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây dược liệu, tre nứa dưới tán rừng và thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP; mục tiêu nâng tốc độ tăng trưởng giá trị ngành lâm nghiệp đạt trên 15%/năm và giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đệm xuống dưới 12% trong giai đoạn 2020–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm giá trị, phù hợp làm tài liệu tham khảo cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Hạt Kiểm lâm Tuyên Hóa, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng các số liệu thực trạng vi phạm lâm luật, nguy cơ cháy rừng để xây dựng quy hoạch 3 loại rừng và lập kế hoạch PCCCR hàng năm.
  2. Ban Quản lý rừng phòng hộ và các chủ rừng tổ chức: Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có thể tham khảo phương pháp quản lý bảo vệ 29.432,62 ha rừng phòng hộ, quy trình tuần tra rừng tự nhiên và giải pháp khoanh nuôi phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt.
  3. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các nhà khoa học và sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học có thể kế thừa khung lý thuyết quản lý rừng bền vững, phương pháp phân tích SWOT và phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên rừng cấp huyện.
  4. Chính quyền địa phương cấp xã và tổ chức phát triển cộng đồng: Lãnh đạo UBND 20 xã, thị trấn cùng các tổ chức xã hội có thể vận dụng kinh nghiệm phân cấp quản lý đất đai, xây dựng hương ước bảo vệ rừng và thiết lập mô hình sinh kế gắn với 49,83% diện tích rừng giao cho hộ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao diện tích rừng tự nhiên tại Tuyên Hóa lớn nhưng chất lượng lại bị suy giảm?

Rừng tự nhiên lá rộng chiếm tới 78.703,91 ha với trữ lượng 6.308.773 m3 (chiếm 96,35% tổng trữ lượng gỗ toàn huyện), nhưng diện tích rừng giàu chỉ còn 486,11 ha (dưới 2%). Nguyên nhân bắt nguồn từ lịch sử khai thác gỗ quá mức qua nhiều năm, kết hợp với thiệt hại từ 27 vụ cháy rừng và các hành vi chặt trộm cây gỗ quý chưa được ngăn chặn triệt để.

Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ cháy rừng tại huyện Tuyên Hóa?

Trong giai đoạn 2015–2018, toàn huyện xảy ra 27 vụ cháy rừng gây thiệt hại 46,1 ha. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết nắng nóng gay gắt kết hợp hiệu ứng gió phơn Tây Nam với nền nhiệt 40–42°C từ tháng 6 đến tháng 8, đi kèm sự bất cẩn của người dân khi đốt xử lý thực bì tại các khu rừng trồng thông nhựa, keo và bạch đàn.

Việc UBND cấp xã tạm quản lý 18,10% diện tích đất lâm nghiệp gây ra bất cập gì?

UBND các xã đang tạm quản lý 17.432,62 ha đất lâm nghiệp. Do thiếu biên chế chuyên trách và kinh phí quản lý, diện tích này tiềm ẩn nguy cơ cao bị lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm nương rẫy trái phép và khiến hơn 11.000 ha đất trống đồi núi trọc chậm được đưa vào quy hoạch trồng rừng sản xuất.

Tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến nào?

Nhờ lực lượng kiểm lâm tăng cường tuần tra và chốt chặn trên các tuyến đường trọng điểm, số vụ vi phạm lâm luật đã giảm từ 26 vụ năm 2015 xuống 16 vụ năm 2018. Tổng cộng trong 4 năm đã xử lý 72 vụ vi phạm, tịch thu 61,95 m3 gỗ và nộp ngân sách nhà nước 2.601,577 triệu đồng.

Giải pháp nào giúp giải quyết bài toán sinh kế của người dân gắn với bảo vệ rừng?

Địa phương cần đẩy mạnh giao 47.976,78 ha rừng cho hộ gia đình gắn với hỗ trợ kỹ thuật lâm sinh, khuyến khích trồng cây dược liệu dưới tán rừng và chi trả đầy đủ tiền dịch vụ môi trường rừng, giúp tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp duy trì mức trên 12,62%/năm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hiện trạng 96.278,39 ha đất lâm nghiệp và tổng trữ lượng 6.559.310 m3 gỗ trên địa bàn huyện Tuyên Hóa.
  • Đánh giá thực trạng 27 vụ cháy rừng (thiệt hại 46,1 ha) và 72 vụ vi phạm lâm luật với số tiền thu nộp ngân sách 2.601,577 triệu đồng giai đoạn 2015–2018.
  • Nhận diện điểm nghẽn bộ máy khi có tới 300 trong tổng số 511 cán bộ quản lý bảo vệ rừng cơ sở (chiếm trên 58%) chưa qua đào tạo chuyên ngành.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược về giao đất giao rừng, hiện đại hóa PCCCR, bồi dưỡng nhân lực và phát triển sinh kế dưới tán rừng.
  • Khẳng định quản lý rừng bền vững là điều kiện tiên quyết để giữ vững độ che phủ rừng trên 75% và tạo đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trung Nghĩa đã cung cấp nguồn luận cứ khoa học và thực tiễn sâu sắc cho công tác quản trị tài nguyên rừng tại tỉnh Quảng Bình. Hệ thống giải pháp đề xuất cần được các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương khẩn trương đưa vào kế hoạch hành động giai đoạn 2020–2025. Hãy tham khảo và ứng dụng toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thúc đẩy các mô hình bảo vệ tài nguyên rừng ngày càng hiệu quả và bền vững.