CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm thị trường, phát triển thị trường * Thị trường là gì? Dựa vào góc độ tiếp cận và phương pháp thể hiện mà tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường. Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó Do đó, khi đề cập đến thị trường nói chung, cần đề cập tới các yếu tố: Chủ thể hoạt động của thị trường là tập hợp những người mua và người bán, nếu thiếu một trong hai chủ thể này thì không thể tạo thành thị trường Nội dung hoạt động của thị trường là trao đổi sản phẩm dựa trên quan hệ hàng hóa – tiền tệ Hoạt động trao đổi của thị trường được thực hiện trong những điều kiện không gian và thời gian xác định, tuy phạm vi có thể rất khác nhau Thị trường tài chính là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi các sản phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế. Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn cần bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhu cầu đầu tư khác. Việc hình thành quá trình giao lưu vốn giữa các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn tạo nên một thị trường với đầy đủ cơ chế như trong một nền kinh tế thị trường.
Đồng thời, do sản phẩm trên thị trường là sản phẩm tài chính, có tính nhạy cảm và ảnh hưởng đến mọi thành phần trong nền kinh tế nên thị trường tài chính là thị trường bậc cao. Do đó, thị trường tài chính phải là loại thị trường bậc cao, chỉ tồn tại và hoạt động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Luan van 7 Phát triển thị trường có thể được hiểu là việc làm gia tăng khách hàng của công ty trên thị trường, gia tăng khối lượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, tăng thị phần của công ty về sản phẩm hàng hoá trên thị trường mà công ty kinh doanh Phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là gia tăng khách hàng của ngân hàng trên thị trường, gia tăng tín dụng, tăng thị phần tín dụng của ngân hàng trên thị trường Chiến lược phát triển thị trường: là hệ thống các chính sách và biện pháp lớn của công ty nhằm triển khai các hoạt động marketing để mở rộng thị trường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu cũng như mở ra các khu vực thị trường địa lý mới.2 Khái niệm dịch vụ, dịch vụ tín dụng ngân hàng 1.1 Dịch vụ và dịch vụ tín dụng ngân hàng * Ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi chung gọi là dịch vụ. Và ngược lại, dịch vụ bao gồm rất nhiều loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau.
Phillip Kotler định nghĩa dịch vụ: dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Tóm lại, có thể hiểu dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
* Tín dụng Ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các tổ chức và cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò trung gian, vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Dưới góc độ là người cho vay: Khách hàng phải hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho Ngân hàng đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng, đồng thời cam kết sử dụng tiền vay theo đúng mục đích đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Dưới góc độ người đi vay: Ngân hàng sau thời gian sử dụng vốn vay của các cá nhân hay tổ chức kinh tế khác phải hoàn trả gốc và lãi vay tùy theo hình thức huy động và lãi suất tiền gửi. Luan van 8 Dịch vụ tín dụng (dịch vụ cho vay): Ngân hàng thực hiện cho vay nhằm đáp ứng như cầu vốn của khách hàng bằng đồng Việt Nam hoặc các ngoại tệ mạnh với thời hạn chi theo 3 loại chủ yếu: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
* Dịch vụ tín dụng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể được phân loại theo các tiêu chí sau: - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay thì tín dụng được chia thành các loại sau: Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai … Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải chi phí sản xuất trong các hoạt động nông nghiệp như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, công lao động … - Căn cứ thời hạn cho vay Theo căn cứ này, cho vay được chia thành 3 loại gồm: Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay không quá 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại cho vay này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
Mục đích sử dụng là để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây nhà ở, xây dựng các xí nghiệp mới, mua các thiết bị và phương tiện vận tải có quy mô lớn. Luan van 9 - Căn cứ vào mức độ đảm bảo tiền vay trong quan hệ tín dụng với khách hàng được chia làm 2 loại: Cho vay có đảm bảo: Là khoản vay mà ngân hàng yêu cầu người vay vốn phải có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Cho vay không có đảm bảo: Là khoản cho vay mà ngân hàng không yêu cầu người cho vay phải có tài sản đảm bảo. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng Căn cứ vào đối tượng tín dụng thì cho vay của Ngân hàng được chia làm 2 loại: Cho vay vốn lưu động: Là loại cho vay được sử dụng để hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Cho vay vốn cố định: Là loại cho vay được sử dụng để hình thành vốn cố định của doanh nghiệp như đầu tư mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới… 1.2 Đặc điểm của dịch vụ tín dụng ngân hàng Tính vô hình Các dịch vụ đều vô hình.
Không giống như những sản phẩm vật chất, chúng ta không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được hay không ngửi thấy được khi mua chúng Tính không tách rời Dịch vụ thường được sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Điều này không đúng với hàng hóa vật chất được đưa ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán sau đó mới được tiêu dùng Tính không ổn định Các dịch vụ rất không ổn định vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó Tính không lưu giữ được Xuất phát từ việc dịch vụ được tạo ra và tiêu dùng đồng thời làm cho người ta không thể lưu kho hoặc lưu trữ dịch vụ được. Dịch vụ là một sự thực hiện cam kết, Luan van 10 không phải là một vật thể hữu hình nên khách hàng và người cung cấp cũng không thể lưu trữ được dịch vụ Tính không sở hữu được Đây có lẽ là điểm khác biệt chủ yếu giữa hàng hóa và dịch vụ xuất phát từ việc khách hàng thường nhận được giá trị từ các dịch vụ mà không có được quyền sở hữu bất kỳ yếu tố hữu hình nào Trách nhiệm ủy thác Trách nhiệm ủy thác đề cập đến trách nhiệm ngầm định của tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn của khách hàng và bản chất những lời tư vấn tài chính cung cấp cho khách hàng của họ Dòng thông tin 2 chiều Dịch vụ ngân hàng không đơn thuần là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các hoạt động 2 chiều thường xuyên trong một thời gian cụ thể 1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường dịch vụ tín dụng cúa các ngân hàng thương mại 1.1 Yếu tố môi trường vĩ mô * Môi trường kinh tế Ngân hàng là một ngành nhạy cảm chứa đựng nhiều rủi ro và phụ thuộc mạnh mẽ vào môi trường mà nó hoạt động, trong đó môi trường kinh tế vĩ mô có những tác động không nhỏ tới năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể: nội lực nền kinh tế thể hiện qua quy mô và mức độ tăng trưởng của GDP; dự trữ ngoại hối… Ở phạm vi hẹp hơn, nội lực kinh tế còn được đánh giá qua tiềm lực tài chính và hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp trong nước cũng như xu thế chuyển hướng hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam. Mức độ ổn định của nền kinh tế vĩ mô: xem xét qua các chỉ số cở bản như chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái… Độ mở của nền kinh tế: thể hiện qua các rào cản, các cam kết quốc tế, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp, sự gia tăng trong các hoạt động xuất nhập khẩu.