CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn Hồ Diệu và ctg (1998) có nêu ra cụ thể những mục tiêu chính của các định chế tài chánh, trong đó có các NHTM. Một trong những mục tiêu chính đó là “Hiệu năng và hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng các nguồn”, hay nói cách khác là hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn của NHTM nhằm đạt được lợi nhuận tối đa.
Hiệu quả có thể được hiểu như sau: cùng một hoạt động, cho ra cùng một kết quả như nhau, nếu hoạt động nào tốn chi phí ít hơn thì được coi là có hiệu quả hơn. Hiệu quả có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh, lĩnh vực như xã hội, chính trị, kinh tế, hiệu quả trước mắt, hiệu quả lâu dài. Mỗi một hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có kết quả, hiệu quả riêng của nó. Hiệu quả sử dụng vốn của NHTM được phản ánh qua chỉ tiêu lợi nhuận mà Ngân hàng thu được trên vốn bỏ ra, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, khả năng quản trị điều hành, kiểm soát, năng lực tài chính của Ngân hàng trong quá trình hoạt động.
Sử dụng vốn hiệu quả và đạt hiệu quả cao là yêu cầu và thách thức đối với tất cả các NHTM để tồn tại và khẳng định vị thế của mình trong cạnh tranh. Hiệu quả sử dụng vốn kém dẫn đến lợi nhuận kém, chứng tỏ năng lực cạnh tranh kém buộc NHTM phải thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là công tác rất quan trọng và không ngừng được nâng cao. Thông qua việc đi sâu nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn của một Ngân hàng có thể thấy được năng lực, trình độ quản lý của Ngân hàng đó như thế nào, chẳng hạn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 như việc huy động vốn có phù hợp với sử dụng vốn hay không?, Ngân hàng đã khai thác hết khả năng của mình chưa?, cơ cấu của sử dụng vốn có phù hợp cơ cấu nguồn vốn không ? và bên cạnh sự tăng trưởng của sử dụng vốn thì sự tăng trưởng đó có ổn định không? Từ việc phân tích này ta có thể rút ra được mặt mạnh của Ngân hàng để phát huy, những hạn chế còn tồn đọng, tìm ra nguyên nhân, từ đó đưa ra phương pháp giải quyết nhằm giúp Ngân hàng sử dụng vốn hiệu quả hơn.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại Sử dụng vốn là yếu tố quan trọng của NHTM nó ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế. Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yếu tố quan trọng được các nhà quản trị quan tâm hàng đầu, nó quyết định đến sự sống còn của Ngân hàng. Thứ nhất: Hiệu quả hoạt động sử dụng vốn là yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của một NHTM. Thực hiện tốt việc sử dụng vốn là động lực làm nên hiệu quả kinh doanh của một Ngân hàng, doanh số hoạt động của một Ngân hàng nhờ đó mà tăng lên và từ đó Ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương trường.
Thứ hai: Hoạt động sử dụng vốn có hiệu quả sẻ góp phần nâng cao uy tín, vị trí của Ngân hàng trên thị trường. Hình ảnh của Ngân hàng sẽ được mọi người biết đến, tăng cơ hội phát triển cho Ngân hàng. Thứ ba: Sử dụng vốn tốt giúp cho Ngân hàng có thể kinh doanh đa đạng trên thị trường. Không chỉ đơn thuần cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ khác, bán chéo sản phẩm.
Các hình thức này không chỉ làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng mà còn làm phân tán rủi ro cho Ngân hàng. Thứ tư: Sử dụng vốn có hiệu quả góp phần tạo điều kiện phát triển toàn diện cho nền kinh tế. Khi Ngân hàng thực hiện đầu tư, cho vay có hiệu quả sẽ tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều người lao động góp phần làm giảm tệ nạn xã hội, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 đồng thời tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện nền kinh tế. Điều đó lại có tác động hỗ trợ cho Ngân hàng phát triển hơn.
Phân loại sử dụng vốn của Ngân hàng 1. Dự trữ tiền NHTM phải sử dụng một phần vốn của mình để trang trải các nhu cầu thanh toán thường xuyên của Khách hàng và phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng. Tiền dự trữ của NHTM bao gồm: - Tiền mặt tại quỹ: là các giấy bạc và tiền kim loại, tùy thuộc vào quy mô hoạt động của từng Ngân hàng, nhu cầu tiền mặt mà NHTM cân đối để tiền mặt tại quỹ cho hợp lý. Phần tiền này không sinh lời nên buộc các Ngân hàng phải tính toán hợp lý, tránh tình trạng lãng phí.
- Tiền gửi ở các Ngân hàng khác: mục đích là để trang trải nhu cầu thực tế của Khách hàng hoặc nhờ các Ngân hàng thực hiện một số dịch vụ như: mua chứng khoán, chuyển tiền, bảo lãnh tín dụng. Số tiền này được tính toán ở mức độ của quan hệ đại lý của các NHTM. - Tiền gửi Ngân hàng Trung Ương: Bao gồm: Tiền dự trữ bắt buộc, còn gọi là tiền gửi dự trữ pháp định, tiền gửi này được tính theo tỷ lệ quy định của Ngân hàng Trung Ương và số vốn huy động trong từng thời kỳ nhất định. Hiện nay, theo QĐ 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 (áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 3/2009): tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% (tổng vốn huy động) và 1% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên; theo QĐ 1925/QĐ-NHNN ngày 26/8/2011 (áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 9/2011): tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ tương ứng là 8% và 6%.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Tiền gửi thanh toán của các NHTM tại Ngân hàng Trung Ương để đảm bảo nhu cầu thanh toán. - Dự trữ các giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN,các loại giấy nợ khác đến hạn thanh toán có thể chuyển thành tiền mặt được. Cho vay Cho vay (hay còn gọi là tín dụng) là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Lãi suất thu được từ cho vay có thể bù phần lớn chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư.
Kinh tế càng phát triển, hướng cho vay của các NHTM càng tăng và loại hình cho vay cũng trở nên vô cùng đa dạng. Lợi nhuận chủ yếu của Ngân hàng vẫn là hoạt động cho vay nhưng hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Nhìn chung, việc sử dụng vốn thông qua hoạt động cho vay của Ngân hàng có thể phân chia thành những loại sau đây: Phân loại theo mục đích cho vay - Tín dụng sản xuất kinh doanh: Ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ. - Tín dụng tiêu dùng: Ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm vật dụng gia đình, chi phí của đời sống, phát hành thẻ tín dụng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Phân loại theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, máy móc thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm của Khách hàng - Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân Khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. - Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Phân loại theo hình thức vốn cho vay - Cho vay bằng tiền mặt: Ngân hàng cung cấp vốn vay bằng tiền mặt. - Cho vay bằng tài sản: Ngân hàng cung cấp vốn vay bằng tài sản, như tín dụng thuê mua.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Phân loại theo phương pháp hoàn trả - Cho vay trả góp: Khách hàng vay phải hoàn trả dần gốc và lãi vay theo định kỳ. - Cho vay phi trả góp: Khách hàng vay phải hoàn trả gốc và lãi vay một lần khi đáo hạn. - Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: việc thu nợ vay của Ngân hàng được thực hiện theo yêu cầu của Khách hàng vay, trên cơ sở khả năng của Khách hàng vay và trong thời hạn hợp đồng đã thỏa thuận. Phân loại theo tính chất hoàn trả - Cho vay hoàn trả trực tiếp: việc hoàn trả nợ vay được thực hiện trực tiếp bởi Khách hàng vay.
- Cho vay hoàn trả gián tiếp: việc hoàn trả nợ vay không được thực hiện trực tiếp bởi Khách hàng vay mà phải gián tiếp thông qua người thụ lệnh của Khách hàng vay, như các khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước nợ hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Đầu tư chứng khoán Ngoài việc sử dụng vốn để cho vay, NHTM còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro.