Chương 1: Bối cảnh xuất hiện hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Chương 2: Thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Chương 3: Chính sách, phương hướng giải quyết và các khuyến nghị đối với các cuộc hôn nhân giữa nữ Việt Nam và nam Đài Loan. Phạm Thị Thu Hoài 8 Cao học 2007 - 2010, Châu Á học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: Thực trạng và giải pháp Chƣơng 1 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN HIỆN TƢỢNG PHỤ NỮ VIỆT NAM LẤY CHỒNG ĐÀI LOAN Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có được một diện mạo mới hoàn toàn khác biệt.
Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện, kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, Việt Nam lại không ngừng bắt nhịp vào bước phát triển chung của toàn thế giới, tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa. Nhưng bên cạnh những bước phát triển đó, đời sống xã hội của người dân cũng nảy sinh nhiều vấn đề gây sự chú ý của dư luận, đồng thời cũng là những vấn đề cần có sự quan tâm, nghiên cứu thấu đáo để tìm ra những giải pháp kịp thời giải quyết. Một trong số đó chính là hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng Đài Loan nói riêng với vô vàn những bất cập.
Những cuộc hôn nhân này hình thành trong bối cảnh như thế nào? Có điểm gì khác biệt so với các cuộc hôn nhân thông thường mà lại thu hút được rất nhiều sự quan tâm của báo chí và dư luận. Ở luận văn này, bối cảnh xuất hiện hiện tượng sẽ được đi vào tìm hiểu trên các phương diện. Về mặt kinh tế và hợp tác lao động 1. Về phía Việt Nam Sau khi các thị trường chính của Việt Nam tại Liên Xô và Đông Âu bị thu hẹp, Việt Nam rơi vào tình trạng mất đi nguồn hỗ trợ về kinh tế.
Thêm vào đó một loạt các dự án đầu tư cũng bị hủy bỏ và những nguồn tài trợ không hoàn lại từ khối các nước thuộc phe Liên Xô cũng kết thúc. Việt Nam không còn con đường nào khác ngoài việc phải tiến hành những cải cách cơ cấu nền kinh tế, từ đó chuyển dần từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế định Phạm Thị Thu Hoài 9 Cao học 2007 - 2010, Châu Á học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: Thực trạng và giải pháp hướng thị trường. Ưu tiên trước tiên là việc tăng cường ngoại thương và thu hút đầu tư nước ngoài. Luật đầu tư nước ngoài ban hành vào năm 1987 và không ngừng được sửa đổi, bổ sung với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 trong giai đoạn này đã không ngừng phát huy vai trò của nó.
Pháp luật đầu tư nước ngoài và các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài được ban hành đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ cho các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, khung pháp lý song phương và đa phương liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng không ngừng được mở rộng và hoàn thiện với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ. Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi tại Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện nội dung quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức tập huấn, trao đổi nghiệp vụ và hỗ trợ các địa phương từ việc tổ chức hội nghị, hội thảo vận động xúc tiến, xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư, ban hành văn bản hướng dẫn về đầu tư nước ngoài tại địa bàn… đưa hoạt động quản lý đầu tư nước ngoài ở các địa phương đi vào nề nếp. Mô hình “một cửa, liên thông”, cách làm “trải thảm đỏ đón nhà đầu tư” đã có tác động lan tỏa khắp trong cả nước, góp phần nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Dòng vốn nước ngoài không ngừng đổ vào Việt Nam cũng đồng thời với việc mối quan hệ của Việt Nam với nước ngoài không ngừng được mở rộng, trong đó có Đài Loan. Những năm đầu thập kỷ 90, những lợi ích kinh tế của Việt Nam và Đài Loan có nhiều điểm tương đồng khá lớn.
Dường như Đài Loan có thể cung Phạm Thị Thu Hoài 10 Cao học 2007 - 2010, Châu Á học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: Thực trạng và giải pháp cấp cho Việt Nam tất cả những gì mà Việt Nam đang cần ở một đối tác đầu tư nước ngoài: vốn đầu tư, các ngành sản xuất sử dụng nhiều nhân lực, kỹ năng quản lý ở trình độ khá và việc thiết lập được các mối liên hệ với thị trường nước ngoài. Được khuyến khích bởi các chính sách của giới cầm quyền Đài Loan, một số lượng lớn các công ty Đài Loan đã bắt đầu tiến hành công việc kinh doanh tại Việt Nam. Mặc dù Việt Nam không ngừng đa dạng hóa các quan hệ với các nước và vùng lãnh thổ, Đài Loan vẫn là một đối tác kinh tế quan trọng. Thương mại hai chiều liên tục tăng dần trong những năm qua.
Năm 1991, thương mại song phương đạt khoảng 232 triệu USD, chiếm khoảng 5,25% tổng thương mại của Việt Nam. Số liệu tương ứng của năm 2006 là 5,7 tỷ USD và 6,73%, trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam [56]. Đài Loan là khu vực đầu tư lớn thứ ba vào Việt Nam. Theo số liệu chính thức của Việt Nam, đến cuối năm 2007, Đài Loan đã đầu tư khoảng 10,5 tỷ USD, chiếm khoảng 12,7% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tại Việt Nam [56], phần lớn tập trung ở các lĩnh vực sản xuất như xây dựng, sản xuất thiết bị điện tử và dệt may.
Mối quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Việt Nam không ngừng phát triển cũng tạo điều kiện cho sự giao lưu, qua lại giữa hai bên. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho những cuộc hôn nhân với người nước ngoài, trong đó có Đài Loan phát triển. Về phía Đài Loan Về phía Đài Loan, lo ngại về sự phụ thuộc quá lớn vào thương mại và đầu tư ở Trung Quốc đại lục và nguy cơ về một “nền kinh tế bong bóng”, chính quyền Đài Loan đã buộc phải có sự thay đổi về chính sách. Chính quyền của ông Lý Đăng Huy đã đưa ra “Phương hướng tăng cường quan hệ kinh tế và thương mại với Đông Nam Á” năm 1994, thường được biết đến như là chính sách “hướng Nam”.
Các nước Đông Nam Á, trong đó Việt Nam Phạm Thị Thu Hoài 11 Cao học 2007 - 2010, Châu Á học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: Thực trạng và giải pháp cũng là một trong những “điểm ngắm” của Đài Loan *. Trong con mắt của các quan chức chính quyền và lãnh đạo doanh nghiệp Đài Loan, Việt Nam là một thị trường rất gần gũi với họ, nhiều cảng biển, chỉ mất hơn 3 giờ bay và ngày càng hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều lao động như giày dép và dệt may đã không còn duy trì được các điều kiện thuận lợi tại Đài Loan, trong khi các ngành này nhận được sự khuyến khích lớn tại một số nước ASEAN. Chính sách này đã khuyến khích được hàng ngàn công ty Đài Loan vào đầu tư và làm ăn tại các nước ASEAN, làm cho thương mại hai chiều tăng nhanh.
Các hãng Đài Loan sớm đặt chân tại Việt Nam gồm Công ty Tam Dương, tập đoàn Đài Vọng, công ty cable và điện lực Đại Dương, tập đoàn Pou Chen, tập đoàn pin công nghiệp Kung Long… “Lực lượng lao động chi phí thấp, chất lượng và cần cù là những nhân tố đầu tiên hấp dẫn các công ty Đài Loan tới thị trường này”, Trần Phương Mỹ, phát ngôn viên của tập đoàn sản xuất gia dày lớn nhất thế giới đã nhận xét như vậy. Việc Đài Loan tăng cường đầu tư vào Việt Nam không chỉ làm thắt chặt thêm mối quan hệ kinh tế giữa hai bên mà thêm vào đó còn làm tăng cường mối quan hệ tình cảm. Sự hiểu biết giữa nhân dân hai bên chính là một trong những yếu tố làm gia tăng số lượng các cuộc hôn nhân giữa Việt Nam và Đài Loan. Hợp tác lao động Đài Loan là một địa điểm quan trọng cho lao động xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt trong công nghiệp nặng và ngư nghiệp.
Ngày 6/05/1999, hai văn phòng kinh tế – văn hoá Hà Nội và Đài Bắc đã ký kết hiệp định về việc gửi và tiếp nhận lao động Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan. Quy mô xuất khẩu lao động ngày một tăng nhanh: tính từ năm 1999 đến năm 2005 đã có 167.800 người Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan, đưa Việt Nam trở * Xe m t hê m p h ụ l ục tr a n g 8 0. Phạm Thị Thu Hoài 12 Cao học 2007 - 2010, Châu Á học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: Thực trạng và giải pháp thành một trong những quốc gia có số lượng lao động lớn tại Đài Loan. Nếu như năm 1999, lao động Việt Nam mới chỉ chiếm tỷ lệ 0,04% thị phần lao động ở Đài Loan thì năm 2000 là 2,37%, năm 2001 là 4,24%, năm 2002 là 9,7% và năm 2003 là 19,2%.
Chiếm hàng đầu trong các ngành mà người lao động sang làm việc tại Đài Loan là thương mại và dịch vụ với 122.273 người, chiếm 72,86%, trong đó phụ nữ chiếm tới 60% trong tổng số lao động ở Đài Loan trong lĩnh vực này [11, tr. Ngoài ra, từ khi Hội đồng lao động của Đài Loan cho phép thuê mướn người Việt Nam năm 1999, giúp việc người Việt Nam bắt đầu chiếm tỷ lệ lớn của phụ nữ Việt Nam tại Đài Loan. Cuối năm 2008, tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam gần như bế tắc do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Nhưng sau những khó khăn đó, “bức tranh” xuất khẩu lao động đang sang dần trở lại.