CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẺ NGÂN HÀNG.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng.1 Khái niệm về thẻ ngân hàng. Thẻ ngân hàng là một sản phẩm tiện ích của các ngân hàng, một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Thẻ ngân hàng hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau, mỗi khái niệm thể hiện nổi bật từng đặc điểm riêng biệt của thẻ ngân hàng: Khái niệm 1: Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không sử dụng tiền mặt, hoặc được sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, các máy rút tiền tự động. Khái niệm 2: Theo Ngân hàng Nhà nước quy định 1: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.” Như vậy, mỗi khái niệm với một cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đây là một phương tiện thanh toán mà người sở hữu thẻ ngân hàng có thể dùng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động,… 1.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển Thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại và rất phổ biến trên thế giới hiện nay.
Nguồn gốc của thẻ ra đời vào những năm 40 của thế kỷ thứ 20 do ông Frank Mc Namara một doanh nhân người Mỹ sáng chế ra. Có một lần khi dùng bữa tối tại một nhà hàng ở New York, ông Mc Namara bỗng phát hiện rằng mình không mang theo tiền mặt. Ông phải gọi điện thoại cho vợ mình nhanh chóng mang tiền đến thanh toán. Chính tình trạng khó xử lần đó khiến ông mày mò chế tạo ra một phương tiện chi trả không dùng tiền mặt trong những trường hợp tương tự như trên.
Thế là lần đầu tiên Mc Namara đã cho ra đời loại thẻ mang tên Diners Club có thể ghi nợ khi đi ăn ở 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố New York. Theo chân Diners Club, năm 1955 hàng loạt các thẻ mới ra đời như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club. Đến năm 1958 Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh th ị trường. Phần lớn các thẻ chỉ dành cho 1 Theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của NHNN Việt Nam về việc “Ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng” 123doc 2 giới doanh nhân, nhưng các ngân hàng đã c ảm nhận được rằng giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu cho tương lai.
Ngân hàng Mỹ là nơi đầu tiên phát đạt với loại thẻ Bank Americard và nó làm dậy lên làn sóng học hỏi sự thành công này của các ngân hàng khác. Đến năm 1966, Bank Americard mà ngày nay là Visa bắt đầu liên kết với các ngân hàng ở các tiểu bang khác. Mạng lưới của Bank Americard chẳng mấy chốc gặp sự cạnh tranh khốc liệt của đối thủ Wells Fargo liên kết với 77 ngân hàng, chủ nhân của Masters Charge mà ngày nay là Master Card. Bây giờ thì những cái tên như Visa Card hay Master Card đã n ằm trong danh sách những thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới.
Chúng góp phần làm cho việc thanh toán giữa các quốc gia gần nhâu hơn. Ngày nay thật đơn giản và thuận tiện khi thanh toán hàng hóa, dịch vụ trong các chuyến du lịch hay công tác sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ chỉ với một vài chiếc thẻ trong tay. Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem như là một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán.
Các loại thẻ Master, Visa, Diners Club, JCB, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các ngân hàng phát hành thẻ phân chia những thị trường rộng lớn. Thẻ Diners Club, thẻ du lịch và giải trí (Travel & Entertainment – T & E) đầu tiên được phát hành năm 1949. Hiện nay, số người sử dụng thẻ Diners Club đang giảm dần, đến năm 1990 Diners Club có 6,9 triệu người sử dụng trên toàn thế giới với doanh số khoảng 16 tỷ đô la. Thẻ American Express (Amex) ra đời vào năm 1958, hiện nay đang là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới.
Đến năm 1993, thì t ổng doanh thu lên đến 124 tỷ đô la với 35,4 triệu thẻ lưu hành. Thẻ Visa tiền thân là Bank Americard do Bank of America phát hành vào năm 1960. Ngày nay Visa là một trong hai loại thẻ có quy mô phát triển lớn trên thế giới. Đến năm 1993 doanh thu của Visa đã tăng m ạnh mẽ lên đến 542 tỷ đô la, hệ thống rút tiền tự động của Visa khoảng 164000 ngàn máy ATM ở 65 nước trên thế giới.
Visa không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên, đây cũng là mặt giúp cho Visa dễ mở rộng thị trường hơn. 123doc 3 Thẻ JCB là thẻ được xuất phát từ Nhật bản vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa, đã bắt đầu phát triển thành một cơ sở quốc tế vào năm 1981. Mục tiêu là hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang là loại thẻ cạnh tranh với Amex. Ngày nay, thẻ JCB được chấp nhận trên 400000 nơi, tiêu thụ trên 109 quốc gia ngoài Nhật bản.
Thẻ Master Card ra đời vào năm 1966 với tên gọi là Master Charge do hiệp hội thẻ ngân hàng gọi tắt là ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các thành viên thế giới. Cho đến nay số lượng thành viên tham gia vào hiệp hội Master Card đã lên đ ến hơn 29000 thành viên, mạng lưới rút tiền mặt đã được triển khai rộng rãi ở hơn 191000 chi nhánh ngân hàng trên thế giới.3 Đặc điểm của thẻ. Kể từ khi ra đời cho đến nay, cấu tạo của thẻ tín dụng đã có những thay đổi rất nhiều nhằm tăng độ an toàn và tính tiện dụng cho khách hàng trong sử dụng. Ngày nay, với những thành tựu của kỹ thuật vi điện tử, một số loại thẻ được gắn thêm chip điện tử nhằm tăng khả năng ghi nhớ thông tin và tính bảo mật cho thẻ.
Hầu hết các loại thẻ tín dụng quốc tế ngày nay đều được cấu tạo bằng nhựa cứng (plastic), có kích cỡ 96mm x 54mm x 0,76mm, có góc tròn gồm hai mặt: Mặt trước của thẻ bao gồm: - Tên, biểu tượng thẻ và huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ. - Số thẻ: là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ. Số này được dập nổi trên thẻ và sẽ được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng. Tùy theo từng loại thẻ mà có số chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.
- Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ được lưu hành. - Họ và tên của chủ thẻ. - Biểu tượng của loại thẻ phát hành. Mặt sau của thẻ bao gồm: - Dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành.4 Phân loại thẻ.
Nếu đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân chia các loại thẻ thì ta thấy thẻ rất đa dạng.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất. Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): đây là loại thẻ dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay, người ta không còn sử dụng nó nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ dễ bị lợi dụng làm giả. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin ở hai mặt sau của thẻ.
Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm qua, nhưng đã b ộc lộ một số nhược điểm như: thông tin ghi trên thẻ không tự mã hóa được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa dữ liệu ít, không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Thẻ thông minh (Smart Card): đây chính là thế hệ mới nhất của thẻ, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo.2 Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ. Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến, nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà còn lưu hành trên toàn cầu.
Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: đó là các loại thẻ du lịch, giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành, các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn… 1.3 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ. Thẻ tín dụng (Credit Card): đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn, sân bay,… chấp nhận loại thẻ này. Mặt khác, gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm này còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay trả chậm.
123doc 5 Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền. Loại thẻ này khi mua những hàng hóa, dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn…đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó… Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM). Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.4Phân loại theo phạm vi lãnh thổ.
Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.