Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển sinh kế tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội" do sinh viên Đặng Thị Thương thực hiện năm 2020 dưới sự hướng dẫn của ThS. Trịnh Hải Vân, thuộc ngành Khuyến nông, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ thực tế xã Tiến Xuân là một xã miền núi bán sơn địa thuộc vùng ngoại thành Hà Nội, có khoảng gần 70% dân số là đồng bào dân tộc Mường sinh sống. Đời sống của người dân địa phương chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của xã còn nhiều khó khăn; trình độ nhận thức và khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học - kỹ thuật của người dân còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững là yêu cầu cấp thiết nhằm giúp các hộ gia đình cải thiện mức sống và tận dụng hiệu quả các nguồn lực tại chỗ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng các hoạt động sinh kế làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển sinh kế cho các hộ gia đình tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá được thực trạng của các hoạt động sinh kế của người dân tại khu vực nghiên cứu.
    • Đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển sinh kế của người dân tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế của người dân tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, trong đó chọn 02 thôn đặc thù là Thôn 1 và Thôn 5 làm điểm điều tra sâu.
  • Phạm vi thời gian: Đợt thực tập và thu thập số liệu sơ cấp diễn ra từ ngày 12/01/2020 đến ngày 10/05/2020; các số liệu thống kê thứ cấp được thu thập cho năm 2019.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 5 nguồn vốn sinh kế, các hoạt động sinh kế (trồng trọt, chăn nuôi, phi nông nghiệp) và thu nhập của nông hộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận chuyên ngành phát triển nông thôn:

Khung lý thuyết và khái niệm áp dụng

  • Khái niệm sinh kế: Tác giả trích dẫn định nghĩa của Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999, 2001), Bùi Đình Toài (2003) và Huyền Ngân (2004), xác định sinh kế là tập hợp các khả năng, nguồn lực (tài sản vật chất và xã hội) cùng các hoạt động mà con người thực hiện để kiếm sống và đạt được mục tiêu cá nhân.
  • Khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (2001): Xem xét sự tương tác của 5 nhóm yếu tố cơ bản gồm:
    1. Nguồn vốn sinh kế (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội).
    2. Bối cảnh bên ngoài (tính tổn thương, xu hướng, cú sốc, tính mùa vụ).
    3. Thể chế và chính sách.
    4. Chiến lược sinh kế.
    5. Kết quả sinh kế (thu nhập, phúc lợi, an ninh lương thực, bảo vệ tài nguyên).
  • Tổng quan thực tiễn: Khóa luận phân tích các bài học kinh nghiệm phát triển sinh kế nông hộ tại Vân Nam - Trung Quốc (Wilkes, 2003), Malawi (Linda Chinangwa và cộng sự), Thái Lan, Malaysia, Indonesia và một số nghiên cứu tại Việt Nam như nghiên cứu tại Sơn La (Phạm Minh Hạnh, 2009), Quảng Trị (Nông Tuyết Phượng, 2015), Thái Nguyên (Hộ Lương Xinh và cộng sự, 2016), Trà Vinh (Phan Anh Tú, 2017).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ báo cáo kinh tế - xã hội năm 2019 và mục tiêu năm 2020 của UBND xã Tiến Xuân, số liệu thống kê đất đai tính đến ngày 31/12/2019, số liệu khí tượng từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn khu vực Sơn Tây.
  • Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA):
    • Phỏng vấn bán định hướng cán bộ: Thực hiện phỏng vấn sâu 03 đại diện cấp xã (Phó Chủ tịch UBND xã, cán bộ nông nghiệp/khuyến nông, cán bộ địa chính) và các trưởng thôn.
    • Phỏng vấn hộ gia đình: Khảo sát trực tiếp 30 hộ gia đình tại 2 thôn điểm (Thôn 1 và Thôn 5, mỗi thôn 15 hộ). Mẫu điều tra được phân chia thành 3 nhóm hộ theo cơ cấu việc làm và nguồn thu nhập: Nhóm 1 (hộ phi nông nghiệp), Nhóm 2 (hộ kết hợp nông nghiệp và phi nông nghiệp), Nhóm 3 (hộ thuần nông nghiệp).
    • Thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức thảo luận với 3–5 người đại diện gồm cán bộ khuyến nông, trưởng thôn và các hộ dân tham gia sản xuất.
    • Công cụ phân tích: Phân tích kinh tế hộ gia đình (thu - chi hiện vật và tiền đồng), phân tích sơ đồ 3 mảng (hoạt động sinh kế - khó khăn - nguyên nhân - giải pháp) và phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức).
  • Xử lý và tổng hợp số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và phần mềm Microsoft Excel để xử lý định lượng số liệu thu nhập, cơ cấu đất đai và tài sản hộ.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm 4 phần chính cùng phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị:

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc thù xã miền núi có 68,7% dân tộc Mường đang trong quá trình chuyển dịch kinh tế; xác định mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi về thời gian (từ 12/01/2020 đến 10/05/2020), không gian (xã Tiến Xuân).

Phần 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế, 5 nguồn vốn sinh kế và khung sinh kế bền vững DFID. Tổng hợp các bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế về đa dạng hóa sinh kế, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở các quốc gia Đông Nam Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia). Rút ra nhận xét tổng quan làm căn cứ cho việc khảo sát thực địa tại Tiến Xuân.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm: (1) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; (2) Các nguồn vốn sinh kế; (3) Thực trạng các hoạt động sinh kế; (4) Thuận lợi, khó khăn; (5) Đề xuất giải pháp. Mô tả quy trình thu thập số liệu thứ cấp, công cụ PRA, phương pháp chọn mẫu 30 hộ, kỹ thuật phỏng vấn bán định hướng và quy trình xử lý số liệu bằng Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ các kết quả khảo sát thực tế qua các mảng nội dung:

1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tiến Xuân

  • Vị trí và địa hình: Xã miền núi phía Tây huyện Thạch Thất, cách trung tâm huyện 17 km, cách trung tâm Hà Nội 35 km.
  • Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên là 2.157,47 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1.647,36 ha (76,36%), đất phi nông nghiệp chiếm 508,48 ha (23,6%), đất chưa sử dụng là 1,64 ha (0,01%). Trong đất nông nghiệp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 809,24 ha (37,5%), đất lâm nghiệp 802,98 ha (37,2%), đất nuôi trồng thủy sản 31,47 ha (1,4%).
  • Dân số và dân tộc: Toàn xã có 1.732 hộ với 7.560 nhân khẩu phân bố tại 7 thôn. Trong đó, người Mường có 5.197 người (chiếm 68,7%), người Kinh có 2.363 người (chiếm 31,3%). Nam giới chiếm 48,5% (3.663 người), nữ giới chiếm 51,5%. Thôn 1 có tỷ lệ người Mường cao nhất (83,8%), Thôn 4 có tỷ lệ người Mường thấp nhất (58,8%).
  • Sản xuất nông nghiệp toàn xã năm 2019: Cây lúa có diện tích gieo trồng 487,87 ha, năng suất 65,2 tạ/ha, sản lượng đạt 32.132 tạ. Tổng đàn trâu toàn xã đạt 1.875 con. Toàn xã có 42,3 ha mặt nước ao hồ, sản lượng thu hoạch cá đạt 46,5 tấn; diện tích trồng rừng mới đạt 5,5 ha.
  • Cơ cấu lao động: Tổng số lao động có việc làm là 3.430 người; ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 62,6% (2.150 người), nông lâm nghiệp - thủy sản chiếm 21,8% (750 người), thương mại - dịch vụ chiếm 15,4% (530 người).

2. Đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế của các nhóm hộ khảo sát

  • Vốn con người: Trình độ học vấn của các hộ điều tra phân hóa rõ rệt theo nhóm hộ. Nhóm 1 có 4 lao động có trình độ đại học/cao đẳng, 9 người tốt nghiệp THPT. Nhóm 2 và Nhóm 3 không có lao động có trình độ đại học/cao đẳng; Nhóm 3 có 8 người chỉ dừng ở trình độ tiểu học. Nhóm 3 có 5 người không có việc làm, Nhóm 2 có 4 người, trong khi Nhóm 1 toàn bộ lao động đều có việc làm.
  • Vốn tự nhiên: Trong 30 hộ phỏng vấn, có 25 hộ canh tác lúa (diện tích bình quân 1,796 ha/hộ), 21 hộ trồng màu (bình quân 0,056 ha/hộ), 3 hộ có đất lâm nghiệp (bình quân 1,66 ha/hộ) và 100% hộ có đất ở (bình quân 0,03 ha/hộ). 100% hộ sử dụng nước giếng khoan/đào phục vụ sinh hoạt.
  • Vốn tài chính: Nguồn vốn tự có chiếm ưu thế ở Nhóm 1 (70% số hộ), giảm dần ở Nhóm 2 (40%) và Nhóm 3 (20%). Ngược lại, nhu cầu vay ngoài (lãi suất 0–2,1%, mức vay bình quân 23 triệu đồng/hộ) tập trung cao nhất ở Nhóm 3 (40%). Vốn vay ngân hàng (bình quân 48 triệu đồng/hộ, lãi suất 1,8%) và vốn tín dụng chính sách (bình quân 10 triệu đồng/hộ, lãi suất ưu đãi 0,65%) chủ yếu được các hộ nông nghiệp sử dụng.
  • Vốn vật chất: Toàn xã có 32 máy cày bừa, 3 máy gặt và 18 máy phụt lúa. Tỷ lệ nhà kiên cố (nhà tầng) toàn xã đạt 67% (trong mẫu điều tra là 63,3%), nhà bán kiên cố (nhà cấp 4) chiếm 33% (mẫu điều tra 36,7%). 100% hộ gia đình được khảo sát sở hữu tivi, quạt điện và điện thoại di động; tuy nhiên điều hòa và ô tô chỉ tập trung ở Nhóm 1.
  • Vốn xã hội: Mức độ tham gia các đoàn thể ở 30 hộ khảo sát gồm: Hội Phụ nữ đạt 100%, Hội Nông dân đạt 63,3% (19/30 hộ), Đoàn Thanh niên đạt 13,3% (4/30 hộ) và Hội Cựu chiến binh đạt 10% (3/30 hộ).

3. Thực trạng hoạt động sinh kế và thu nhập

  • Trồng trọt: Cây trồng chính gồm lúa, ngô, mía, rau, lạc đậu, khoai lang. Thu nhập bình quân từ trồng trọt của cả 30 hộ đạt 20,95 triệu đồng/hộ/năm; trong đó lúa đóng góp cao nhất (7,9 triệu đồng/hộ). Nhóm 3 có diện tích đất trồng trọt lớn nhất (5.495 m²/hộ), thu nhập đạt 24,23 triệu đồng/hộ; Nhóm 2 đạt 24,16 triệu đồng/hộ; Nhóm 1 có diện tích canh tác thấp nhất (1.158,7 m²/hộ) với thu nhập 14,46 triệu đồng/hộ.
  • Chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nông hộ nhỏ lẻ. Nhóm 3 chăn nuôi nhiều nhất với 10 trâu, 9 lợn, 190 gà và 2.000 con cá; Nhóm 1 chỉ có 2 hộ nuôi gà với quy mô 25 con.

4. Phân tích SWOT và đề xuất giải pháp

Tác giả tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức; đồng thời sử dụng sơ đồ 3 mảng để xác định nguyên nhân của các khó khăn trong trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh và nghề phụ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sinh kế.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể từ khảo sát thực địa tại 30 hộ dân ở xã Tiến Xuân:

Chỉ tiêu sinh kế Toàn xã / Mức chung Nhóm 1 (Phi nông nghiệp) Nhóm 2 (Kết hợp) Nhóm 3 (Thuần nông)
Số lao động được khảo sát (người) 59 người / 30 hộ 20 21 18
Trình độ Đại học/Cao đẳng (người) - 4 0 0
Lao động không có việc làm (người) - 0 4 5
Tỷ lệ hộ có vốn tự có (%) - 70% 40% 20%
Tỷ lệ hộ vay vốn ngoài (%) - 20% 30% 40%
Diện tích đất canh tác bình quân (m²/hộ) 2.900,57 1.158,7 2.048,0 5.495,0
Thu nhập bình quân từ trồng trọt (triệu đồng/hộ/năm) 20,95 14,46 24,16 24,23
Số lượng vật nuôi khảo sát (con) 15 trâu, 12 lợn, 350 gà, 4.000 cá 25 gà 5 trâu, 3 lợn, 135 gà, 2.000 cá 10 trâu, 9 lợn, 190 gà, 2.000 cá

Hệ thống giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Giải pháp phát triển nguồn vốn con người: Mở các lớp tập huấn kỹ thuật khuyến nông ngắn hạn, đào tạo nghề phi nông nghiệp cho lao động nhàn rỗi ở Nhóm 2 và Nhóm 3.
  • Giải pháp phát triển nguồn vốn tài chính: Cải cách thủ tục hành chính, nâng mức hạn mức vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn để hỗ trợ người dân mở rộng sản xuất.
  • Giải pháp phát triển nguồn vốn tự nhiên và vật chất: Quy hoạch dồn điền đổi thửa, kiên cố hóa hệ thống kênh mương và giao thông nội đồng (đáp ứng việc cơ giới hóa); đưa giống lúa, cây ăn quả chất lượng cao vào canh tác.
  • Phân cấp kiến nghị: Khóa luận phân định kiến nghị rõ ràng cho 3 cấp: cấp Nhà nước (hỗ trợ chính sách vốn và thị trường), cấp Địa phương (tăng cường khuyến nông, hỗ trợ tiêu thụ nông sản) và cấp Hộ gia đình (chủ động học tập kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi).

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc lượng hóa chi tiết hiện trạng sinh kế của vùng đồng bào dân tộc Mường ngoại thành Hà Nội, chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về khả năng tiếp cận vốn tài chính, trình độ học vấn và việc làm giữa các nhóm hộ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu và dữ liệu thực tế:

  • Giới hạn về quy mô mẫu: Khảo sát hộ gia đình mới dừng lại ở quy mô mẫu 30 hộ đại diện tại 2 thôn (Thôn 1 và Thôn 5) trên tổng số 7 thôn của toàn xã Tiến Xuân, do thời gian thực hiện đề tài giới hạn từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020.
  • Giới hạn về dữ liệu chuỗi thời gian: Các số liệu thống kê kinh tế - xã hội chủ yếu tập trung vào mốc năm 2019, chưa theo dõi được biến động sinh kế nhiều năm liên tục dưới tác động của quy hoạch khu đô thị Hòa Lạc kế cận.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điều tra khảo sát cho toàn bộ các thôn còn lại của xã Tiến Xuân; nghiên cứu sâu hơn về tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đối với sự thay đổi chiến lược sinh kế dài hạn của cộng đồng người Mường.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai và Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp tài liệu mẫu về quy trình ứng dụng khung sinh kế DFID kết hợp phương pháp PRA vào phân tích thực tế cấp xã.
  • Cán bộ quản lý kinh tế, khuyến nông cấp cơ sở: Tham khảo phương pháp phân nhóm hộ (nhóm phi nông nghiệp, nhóm kết hợp, nhóm thuần nông) để xây dựng chính sách tín dụng và tập huấn kỹ thuật phù hợp với từng đối tượng cụ thể tại các địa bàn miền núi, bán sơn địa có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu dân tộc và quy mô dân số tại xã Tiến Xuân được văn bản ghi nhận như thế nào?

Theo báo cáo năm 2019 của UBND xã Tiến Xuân, toàn xã có 1.732 hộ với 7.560 nhân khẩu phân bố trên 7 thôn. Cơ cấu dân tộc gồm 2 dân tộc chính: người Mường chiếm 68,7% (5.197 người) và người Kinh chiếm 31,3% (2.363 người). Thôn 1 là địa bàn có tỷ lệ người Mường cao nhất (83,8%), còn Thôn 4 có tỷ lệ người Kinh cao nhất (41,2%).

2. Tác giả phân chia 30 hộ điều tra thành những nhóm hộ nào?

Tác giả phân chia 30 hộ khảo sát tại Thôn 1 và Thôn 5 thành 3 nhóm hộ đặc trưng:

  • Nhóm hộ 1: Hộ phi nông nghiệp, có thu nhập chính từ công nhân, điện tử và các ngành nghề khác.
  • Nhóm hộ 2: Hộ có thu nhập kết hợp từ cả sản xuất nông nghiệp và hoạt động phi nông nghiệp.
  • Nhóm hộ 3: Hộ thuần nông, có thu nhập chính phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất nông nghiệp.

3. Khung phân tích sinh kế nào được áp dụng trong khóa luận?

Đề tài áp dụng Khung phân tích sinh kế bền vững của Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2001). Khung phân tích này đánh giá mối quan hệ tương tác giữa 5 nguồn vốn sinh kế (con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội), bối cảnh tổn thương bên ngoài, thể chế - chính sách, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế đạt được.

4. Thu nhập từ trồng trọt giữa các nhóm hộ có sự khác biệt ra sao?

Thu nhập bình quân từ trồng trọt của cả 30 hộ là 20,95 triệu đồng/hộ/năm. Trong đó, Nhóm 3 đạt thu nhập cao nhất (24,23 triệu đồng/hộ/năm) nhờ diện tích canh tác lớn nhất (5.495 m²/hộ); Nhóm 2 đạt 24,16 triệu đồng/hộ/năm với diện tích 2.048 m²/hộ; Nhóm 1 có diện tích canh tác thấp nhất (1.158,7 m²/hộ) và thu nhập từ trồng trọt thấp nhất (14,46 triệu đồng/hộ/năm). Cây lúa là nguồn thu chính, đóng góp bình quân 7,9 triệu đồng/hộ.

5. Thực trạng tiếp cận nguồn vốn tài chính của các hộ dân có đặc điểm gì?

Khả năng tiếp cận tài chính phân hóa theo loại hình sinh kế. Nhóm 1 chủ yếu dựa vào vốn tự có (70% số hộ). Nhóm 2 và Nhóm 3 phụ thuộc nhiều vào các kênh vay vốn: vốn vay ngân hàng (bình quân 48 triệu đồng/hộ, lãi suất 1,8%), vốn tín dụng ưu đãi (bình quân 10 triệu đồng/hộ, lãi suất 0,65%) và vốn vay ngoài từ tư nhân/bạn bè (bình quân 23 triệu đồng/hộ, lãi suất từ 0–2,1% với 40% hộ Nhóm 3 phải sử dụng).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đặng Thị Thương đã hoàn thành mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng các hoạt động sinh kế tại xã Tiến Xuân thông qua việc vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững DFID và phương pháp PRA trên mẫu khảo sát 30 hộ dân. Các số liệu điều tra phản ánh rõ nét sự chuyển dịch cơ cấu việc làm sang công nghiệp - xây dựng (chiếm 62,6% lao động), nhưng sản xuất nông lâm nghiệp vẫn đóng vai trò an sinh cốt lõi đối với cộng đồng người Mường tại địa phương. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng dựa trên kết quả phân tích SWOT và sơ đồ 3 mảng, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về vốn vay, cơ sở hạ tầng giao thông nội đồng và đào tạo nghề nhằm nâng cao tính bền vững cho sinh kế nông hộ.