MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài:. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn:.
Ý nghĩa thực tiễn:. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:. Câu hỏi nghiên cứu:.
Giả thuyết nghiên cứu:. Phương pháp nghiên cứu:. Phương pháp nghiên cứu định tính:. Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi.
Khung phân tích: .15 NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. Khái niệm nguồn sinh kế:. Vùng ven đô và các đặc trưng:. Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề nguồn sinh kế:.
Các lý thuyết xã hội học sử dụng trong đề tài:. Thuyết cấu trúc hóa. Thuyết mạng lưới xã hội. Tổng quan địa bàn nghiên cứu: .21 1 z CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN SINH KẾ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI HAI PHƢỜNG ĐÌNH BÀNG VÀ ĐỒNG NGUYÊN, TỪ SƠN, BẮC NINH.
Thực trạng nguồn vốn con người:. Thực trạng nguồn vốn tài chính. Thực trạng nguồn vốn xã hội. Thực trạng nguồn vốn tự nhiên.
Thực trạng nguồn vốn vật chất. Nhận xét chung về nguồn sinh kế tại phường Đồng Nguyên và Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh: .65 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NGUỒN SINH KẾ CỦA NGƢỜI DÂN VÙNG VEN ĐÔ. Các yếu tố cơ bản tác động tới nguồn sinh kế vùng ven đô. Một số giải pháp về nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô:.
Giải pháp về nguồn vốn con người. Giải pháp về nguồn vốn tài chính:. Giải pháp về nguồn vốn xã hội:. Giải pháp về nguồn vốn tự nhiên:.
Giải pháp về nguồn vốn vật chất: .83 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 2 z DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Bảng tương quan trình độ học vấn với địa bàn khảo sát và giới tính người được phỏng vấn.2: Số lần thay đổi nghề nghiệp theo địa bàn khảo sát và giới tính .3: Tương quan số người đóng góp thu nhập chính cho hộ gia đình .4: Tỷ lệ người dân tham gia các tổ chức xã hội. 49 3 z DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 1: Cơ cấu mẫu theo giới tính, độ tuổi và tình trạng hôn nhân .1: Cơ cấu mẫu khảo sát về trình độ học vấn .2: Cơ cấu nghề nghiệp chính của người dân tại địa bàn khảo sát .3: Tương quan nơi làm việc chính của người dân với địa bàn .4: Tương quan nghề nghiệp phụ với địa bàn khảo sát (Đơn vị %) .5: Lý do thay đổi nghề nghiệp của người dân tại địa bàn khảo sát .6: Đánh giá nghề nghiệp hiện tại của người dân tại địa bàn khảo sát .7: Định hướng của bố mẹ về cấp học cho con (Đơn vị: %) .8: Những hình thức hỗ trợ của bố mẹ về việc học tập của con .9: Định hướng của bố mẹ về nghề nghiệp cho con tại địa bàn .10: Thu nhập trung bình 1 người/tháng của người dân .11: Nhóm tuổi đóng góp thu nhập chính cho hộ gia đình .12: Tương quan nghề nghiệp đóng góp thu nhập chính (Đơn vị %) .13: Mức chi tiêu trung bình 1 người trong 1 tháng của hộ gia đình.14: Tương quan đánh giá mức độ thu nhập và chi tiêu của người dân .15: Tỷ lệ số người có tiếp cận với các hình thức vốn tài chính.16: Các loại hình nguồn vốn tài chính được người dân tiếp cận .17: Kế hoạch sử dụng tài chính của người dân .18: Các hình thức hỗ trợ trong gia đình, họ hàng (Đơn vị %) .19:Tương quan tỷ lệ người dân tham gia một số tổ chức xã hội .20: Một số hình thức hỗ trợ của địa phương đối với người dân.21: Các hoạt động được thực hiện tại địa bàn (Đơn vị %) .22: Tương quan diện tích đất ở/ 1 người .23: Tương quan thay đổi diện tích đất ở/1 người .24: Tương quan diện tích đất sản xuất của hộ gia đình .25: Tương quan thay đổi diện tích đất sản xuất của hộ gia đình .26: Loại hình và chất lượng nước sinh hoạt đang sử dụng .27: Hình thức thu gom và xử lý rác thải (Đơn vị %) .28: Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường (Đơn vị %) .29: Một số loại nhà ở của hộ gia đình .30: Một số trang thiết bị của hộ gia đính.31: Một số loại hình cơ sở sản xuất của người dân .32: Một số công cụ sản xuất được người dân sử dụng .33: Mức vốn đầu tư sản xuất của người dân. Lý do chọn đề tài: Sinh kế đã đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốc gia đang phát triển. Việc định hướng tiếp cận và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực (vốn sinh kế) sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng bền vững của các quốc gia.
Trong những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam tiếp tục có thêm nhiều chính sách để tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế tại các vùng nông thôn, khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng khu vực nông thôn trong định hướng phát triển kinh tế-xã hội của nước ta, điển hình như Quyết định số: 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”. Các vùng nông thôn ven đô thị với vị trí là môi trường trung gian chịu sự tác động qua lại giữa đô thị và nông thôn, là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ quá trình chuyển dịch nông nghiệp sang phi nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong trong chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ. Việc nghiên cứu sinh kế của người dân các vùng nông thôn ven đô thị (vùng đang trong giai đoạn bị đô thị hóa nhánh chóng) sẽ góp phần giải quyết những vấn đề thực tế phát sinh như: mất đất nông nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh, ô nhiễm môi trường, chênh lệch chất lượng sống giữa người dân ở nội thị và ngoại thị… Với những nghiên cứu tìm hiểu thực tế thực trạng nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô tại địa bàn hai phường: Phường Đình Bảng và phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đề tài “Nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô: Thực trạng và giải pháp” tập trung tìm hiểu một số yếu tố trọng yếu ảnh hưởng đến nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô của hai phường Đình Bảng và Đồng Nguyên, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao sinh kế của người dân hai địa bàn ven đô thị này. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: Với nghiên cứu “Sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển: Thực trạng và giải pháp” (Hội thảo vấn đề về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay, 6 z 11/2011), PGS.
Nguyễn Xuân Mai và Ths Nguyễn Duy Thắng định hướng nghiên cứu tìm hiểu thực trạng sinh kế, những rủi ro sinh kế hiện thời và khả năng chuyển đổi sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển trong bối cảnh tài nguyên ven biển suy giảm đáng kể và hoạt động đánh bắt cá gần bờ tăng mạnh trong những năm gần đây. Mặt khác, nghiên cứu cũng đề xuất các mô hình sinh kế thay thế hình thức đánh bắt ven bờ thông qua tham vấn cộng đồng ngư dân ven biển [2]. Nguyễn Văn Sửu là nhà nghiên cứu có nhiều đề tài hướng đến các vấn đề phát triển xã hội, chủ yếu là vùng ven đô và nông thôn. Với nghiên cứu: “Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam: Trường hợp một làng ven đô Hà Nội” (Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, 2008), tác giả một lần nữa khai thác vấn đề phát triển vùng ven đô, đi sâu nghiên cứu về việc thu hồi đất nông nghiệp và phân tích các tác động của nó đối với cuộc sống của người nông dân, đặc biệt là với sinh kế của họ ở một làng ven đô Hà Nội từ cuối những năm 1990 [4].
Bên cạnh đó, nghiên cứu: “Sinh kế người dân thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị trong quá trình phát triển khu kinh tế-thương mại đặc biệt Lao Bảo” tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 54, 2009, hai tác giả Mai Văn Xuân và Hồ Văn Minh lựa chọn khu thương mại đặc biệt Lao Bảo (SECA) làm địa bàn thực hiện khảo sát. Đây là khu kinh tế thương mại có ý nghĩa to lớn với sự phát triển kinh tế-xã hội của khu vực nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng. SECA tạo điều kiện đế phát huy tiềm năng, lợi thế về giao lưu phát triển kinh tế-thương mại của Việt Nam trên hành lang kinh tế Đông-Tây. Nghiên cứu này nhằm đánh giá, phân tích tác động của SECA đến thay đổi sinh kế và phúc lợi của người dân địa phương; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của SECA đến cải thiện sinh kế của người dân nói riêng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói chung.
Tập trung nghiên cứu đến vai trò và trách nhiệm của các tổ hợp nhóm xã hội, nghiên cứu “Vai trò của tổ hợp tác trong việc nâng cao nguồn lực sinh kế cho nông hộ: Nghiên cứu trường hợp tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” (Tạp chí Khoa học 2012, Trường Đại học Cần Thơ) đã góp phần tìm ra hướng giải quyết 7 z giúp quản lý và nâng cao nguồn sinh kế của người nông dân. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến các hình thức hoạt động kinh tế tập thể của người dân, đặc biệt là mô hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Về thể chế và chính sách, Quốc hội đã ban hành Luật Hợp tác xã sửa đổi và bổ sung vào năm 2003 và ngày 10/10/2007, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 151/2007/NĐ- CP quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác. Chính phủ muốn tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các hình thức tổ hợp tác.
Dựa trên cơ sở đó, nhóm tác giả Trần Quốc Nhân, Hứa Thị Huỳnh và Đỗ Văn Hoàng chọn tiếp cận vấn đề nguồn sinh kế dưới hình thức tổ hợp tác của các hộ nông dân tại địa phương khảo sát. Qua đó, nhóm tác giả thu nhận được kết quả như sau: Đối với nguồn sinh kế nông thôn, tổ hợp tác giúp cải thiện hiệu quả vốn sinh kế về nguồn lực xã hội và nguồn lực tài chính. Mặt khác, đối với nguồn sinh kế về nhân lực, vật chất và tự nhiên, tổ hợp tác chưa đóng vai trò nâng cao hiệu quả sử dụng đối với người dân.