Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực, thu hút và giữ chân lao động Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế và xã hội. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. Theo cách hiểu này thì nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai.9] Nguồn nhân lực có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá.
"Nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội".7] Trong phạm vi DN hoặc tổ chức, nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm: Tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.7] Quản trị nhân lực Quản trị nhân lực là việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được mục tiêu của tổ chức. Việc làm của quản trị nhân lực là tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó. Song dù sao, thì quản trị nhân lực vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số và chất lượng. Đối tượng của quản trị nhân lực là người lao động với tư cách là những cá nhân, cán bộ, công nhân viên, người lao động trong tổ chức và các vấn đề có liên quan đến họ như công việc và các quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong tổ chức.
4 Mục tiêu cơ bản của quản trị nhân lực là sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực để đạt được mục tiêu của tổ chức đó; Nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng lao động cần thiết cho tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra; quản trị nhân lực giúp tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng góp được nhiều cho việc đạt được mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân người lao động. Thực chất quản trị nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là đối xử của tổ chức đối với người lao động. Nói cách khác, quản trị nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh. Vai trò: trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt và khi con người ngày càng đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nhân tố quyết định thì đóng góp của quản trị nhân lực càng quan trọng hơn bao giờ hết.
Thu hút và giữ chân lao động Thu hút có thể hiểu là những biện pháp, cách thức, những hành động mà một cá nhân, hoặc tổ chức thực hiện để tạo sự chú ý, gây tò mò, cuốn hút và gây ấn tượng tốt đẹp với đối tượng khác để thu hút họ, lôi kéo họ về phía mình, đến với mình. Khái niệm thu hút được sử dụng trong mọi lĩnh vực với các hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, trong quản trị nhân lực thì khái niệm này cụ thể hơn, vì đối tượng thu hút chính là con người với ý nghĩa là một nguồn lực của tổ chức. Hiện nay chưa có nhiều khái niệm thu hút nhân lực được công bố rộng rãi.
Một số nhà nghiên cứu đã gần như đồng nhất thu hút nguồn nhân lực với tuyển dụng, tuyển mộ. Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận khái niệm thu hút nhân lực theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả thu hút bên ngoài và bên trong tổ chức, cả quá trình đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ, quan tâm người lao động đã được tuyển dụng. Giữ chân lao động là các biện pháp mà tổ chức, DN thực hiện tạo sức hấp dẫn và sự lôi cuốn người lao động thông qua tổng thể các cơ chế, chính sách; Mục đích là làm cho người lao động gắn bó lâu dài với DN, yên tâm về tương lai của mình tại DN, làm việc có động lực để đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu của DN. Thu hút và giữ chân lao động là mục tiêu cơ bản, chiếm hầu hết chức năng của quản trị nhân lực.
Công nhân lao động hầm lò Khái niệm Công nhân hầm lò là tên gọi chính thức của đội ngũ người lao động chiếm số lượng rất lớn trong nguồn nhân lực của các mỏ khai thác bằng công nghệ hầm lò. 5 Trình độ và kỹ năng Về trình độ, công nhân hầm lò bắt buộc phải qua đào tạo, ít nhất là ở mức sơ cấp nghề, phần lớn trong số học có trình độ sơ cấp và trung cấp nghề, có bậc thợ từ 2/6 trở lên. Ngành nghề chính của công nhân hầm lò là: khai thác mỏ hầm lò, kỹ thuật cơ điện mỏ, xây dựng mỏ. Các cán bộ kỹ thuật, quản lý có bằng đại học trở lên nhưng làm việc thường xuyên trong hầm mỏ được xếp chung nhóm và hưởng quyền lợi như công nhân hầm lò.
Về kỹ năng, họ đều phải là các lao động đã thành thục công việc, được cấp chứng chỉ công nhận kỹ năng nghề. Vì lý do an toàn, học sinh thực tập, thợ chưa qua học an toàn, chưa qua đánh giá kỹ năng đều không được vào hầm mỏ. Môi trường lao động Điều kiện làm việc của công nhân hầm lò có thể nói là khắc nghiệt. Ngày nay, để khai thác khoáng sản, các DN phải xây dựng các đường lò vào sâu trong lòng đất.
Bình quân, công nhân phải đi vào sâu trong lòng đất từ 3 km đến 4 km mới đến khai trường. Độ sâu của các mỏ cũng tăng lên, từ âm 200 mét đến âm 300 mét so với mực nước biển. Tại các vị trí này, môi trường làm việc rất không thuận lợi, người công nhân phải chịu đựng sự nóng bức, tiếng ồn của máy khai thác, bụi, hầm lò thường xuyên dột nước, ẩm ướt và thiếu ánh sáng. Rủi ro trong công việc ở mức độ cao, tai nạn thường xuyên rình rập: sập lò, ngạt khí, cháy nổ khí, bục nước trong lò.
Nếu không được trang bị tốt và có ý thức phòng hộ về an toàn lao động, các công nhân còn rất dễ bị tai nạn lao động với các máy móc thiết bị khai thác do phạm vi làm việc chật hẹp, thiếu ánh sáng, khó khăn trong giao tiếp. Tóm lại, công nhân hầm lò là các lao động có kỹ năng, làm việc trong môi trường nguy hiểm, nặng nhọc và độc hại, do phải làm việc cường độ cao, chịu nhiều sức ép để tạo ra sản phẩm chính cho DN nên họ được hưởng thu nhập cao cùng các chế độ đãi ngộ đặc thù. Vai trò của thu hút và giữ chân lao động 1. Sự cần thiết phải thu hút và giữ chân lao động Đảm bảo nguồn nhân lực cho tổ chức Đây là yêu cầu và mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào.
Các nhà lãnh đạo và quản lý đều nhận ra tầm quan trọng của con người đối với tổ chức, họ hiểu rằng muốn tồn tại và phát triển bền vững thì nhất thiết phải có đội ngũ nhân lực đầy đủ, xứng tầm, đáp ứng được yêu cầu của tổ chức. 6 Tăng lòng trung thành của người lao động Trong nền kinh tế thị trường, mọi thứ đều được thương mại hóa, trong đó có cả sức lao động. Không chỉ là hàng hóa, người lao động ngày nay còn được các tổ chức, DN săn đón, tìm mọi cách lôi kéo, nếu họ có giá trị. Chính vì thế dẫn đến tình trạng nhảy việc, ra đi vì rất nhiều lý do của người lao động.
Điều này tạo nên rất nhiều khó khăn cho nhà quản lý, khi nguồn nhân lực luôn bị biến động và không kiểm soát được. Việc tìm chọn được người phù hợp, lôi kéo, giữ họ làm việc lâu dài đã trở thành mục tiêu của DN. Tăng năng suất lao động (NSLĐ) Những người lao động đã làm việc một thời gian cho DN sẽ có vốn tri thức và kỹ năng công việc nhất định. Những kinh nghiệm này rất phù hợp và cần thiết cho bản thân DN.
Nếu như họ xác định gắn bó lâu dài, yêu mến công việc thì sẽ có động lực làm việc. Đây chính là một cơ sở để DN tăng được NSLĐ. Nếu xảy ra tình trạng đội ngũ nhân lực luôn thay đổi, phải liên tục kèm cặp, đào tạo thì DN thậm chí còn bị giảm NSLĐ. Tăng năng suất sẽ làm giảm chi phí và giá thành, tăng được lợi nhuận, DN đạt mục tiêu của mình.
Tạo lợi thế cạnh tranh cho tổ chức Chất lượng nguồn nhân lực tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững, giảm thiểu chi phí sử dụng lao động và tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn của tổ chức. Mối quan hệ giữa thu hút và giữ chân lao động Thu hút và giữ chân là hai vấn đề có mối quan hệ bổ sung cho nhau và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhau. Thu hút hiệu quả đồng nghĩa với việc tổ chức có một đội ngũ lao động ở đầu vào đủ số lượng, đúng chất lượng và phù hợp yêu cầu SXKD. Thuận lợi này góp phần cho các hoạt động về giữ chân, tạo động lực cho người lao động được dễ dàng và hiệu quả hơn.