Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về phát triển trồng rừng trên Thế giới và Việt Nam 1. Nghiên cứu về phát triển trồng rừng trên Thế giới 1. Nghiên cứu về phát triển giống cây trồng lâm nghiệp Đã có những nghiên cứu trong và ngoài nước về cây mỡ như nghiên cứu của Jian Hao et al., (2019) về cấu trúc hoa và hệ thống nhân giống của cây mỡ.
Jiang Qing Bin et al. Từ thế kỷ 18 - 19 đã có những ý tưởng về nghiên cứu lai giống và sản xuất hạt giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng. Đầu thế kỷ 20 các nước Bắc Âu như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch là những nước có nền lâm nghiệp phát triển cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống. Trong những năm 1950, hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.Trong đó cuốn “Chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Larsen được đánh giá như một công trình có giá trị nhất lúc đó.
Trong những năm 1980, nhiều lớp huấn luyện về cải thiện giống cây rừng dưới sự bảo trợ của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã được mở cho các nước đang phát triển. Cuối những năm 1950, hàng loạt khảo nghiệm loài và xuất xứ cho những loài cây trồng rừng quan trọng nhất đã được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó phải kể đến các khảo nghiệm xuất xứ cho Thông caribê (Pinus caribaea) đã được xây dựng ở Fiji vào năm 1955. Đến năm 1968, đã thấy rằng trong các thứ (variety) được khảo nghiệm thì tốt nhất là các xuất xứ của P. hondurenssis, tiếp đến là P.
bahamensis và cuối 3 cùng là P. Các khảo nghiệm sau này ở nhiều nước khác cũng đi đến những kết luận tương tự. Khảo nghiệm xuất xứ cho Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (P. merkusii) và một số loài thông nhiệt đới khác cũng được xây dựng vào thời kỳ này.
Vào những năm 1970, một loạt các khảo nghiệm xuất xứ cho một số loài cây lá rộng cũng được xây dựng ở nhiều nước nhiệt đới.Đó là Teck (Tectona grandis), Lõi thọ (Gmelina arborea), các loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis, E. cloeziana và nhiều loài Bạch đàn khác. Trong những năm 1980 - 1990, khảo nghiệm xuất xứ được tập trung cho các loài Keo nhiệt đới như Keo tai tượng (A.mangium), Keo lá tràm (A. auriculiformis), Keo lá liềm (A.
Đến nay, về cơ bản các nhà chọn giống cây rừng đã biết được các xuất xứ tốt nhất trong một số loài Bạch đàn và một số loài Keo chủ yếu. Những xuất xứ này có thể cho năng suất gấp 2 - 4 lần những xuất xứ kém nhất được đưa vào khảo nghiệm. Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng và rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất. Theo Davidson (1996) thì giống được cải thiện có thể chiếm đến 50 - 60% năng suất rừng trồng.Vì thế, cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấp bách đối với sản xuất lâm nghiệp ở nước ta.
Hiện nay một số nước có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo được năng suất rừng trồng 40 - 50m3/ha/năm trên diện rộng, có nơi đã đạt năng suất 60 - 70 m3/ha/năm. Gần đây, với việc đưa một số giống Keo lai và Bạch đàn cao sản vào sản xuất, một số nơi đã đạt năng suất rừng trồng 30 - 40 m3/ha/năm, mở ra triển vọng mới cho công tác giống và trồng rừng sản xuất ở nước ta. Nghiên cứu về trồng rừng Từ xa xưa, loài người đã trồng cây để phục hồi rừng. Tuy nhiên, về cơ bản, những hoạt động trồng cây từ hàng nghìn năm trước tại khắp các châu lục chỉ nhằm cung cấp một số dịch vụ hoặc sản phẩm nhất định từ rừng.
Còn ngày 4 nay, thế giới nỗ lực tái trồng rừng với những mục tiêu và tham vọng lớn hơn, trong đó “Tái trồng rừng về mặt phục hồi sinh thái tức là tái lập những khu rừng giống với trạng thái trước đây của chúng là một tham vọng tương đối gần đây của xã hội phương Tây”, Kate Hardwick, nhà khoa học bảo tồn tại Vườn Bách thảo Hoàng gia Kew (Anh) cho biết: Một trong những minh chứng sớm nhất về trồng rừng hiện đại là phong trào “Vành đai Xanh”, được thành lập ở Kenya vào năm 1977 bởi Wangari Maathai, người đoạt giải Nobel Hòa bình năm 2004. Phong trào hiện trồng hơn 50 triệu cây nhằm khôi phục môi trường và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, một số dự án do các chính phủ lãnh đạo như sáng kiến “Bức tường xanh vĩ đại” (Great Green Wall) trải dài trên 20 quốc gia châu Phi và “Vạn lý trường thành xanh” ở miền Bắc Trung Quốc cũng trồng hàng trăm triệu cây trong vài thập kỷ, góp phần ngăn chặn sa mạc hóa bằng những bức tường xanh. Pedro Brancalion, Giáo sư tại Đại học São Paulo kiêm nhà thực hành, nhà nghiên cứu về phục hồi rừng nhấn mạnh.
Ngày nay các dự án trồng rừng về cơ bản chỉ quan tâm đến số lượng cây trồng. Nó giống như mục tiêu cuối cùng. Nhưng số lượng cây bạn trồng chỉ là bước khởi đầu của một quá trình lâu dàI. Diện tích rừng trồng đã tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung cấp khoảng 50% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế giới.
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) ước tính rằng tổng diện tích rừng trồng đến năm 2005 khoảng 140 triệu ha (FAO 2006), bình quân mỗi năm tăng khoảng 3 triệu ha.B Ball, Tj Wormald, L Russo (1995) khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã đặc biệt lưu ý đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loài. Matthew, J Kelty (1995) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu.Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Qua đó có thể khẳng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng thì cây Keo lai và Keotai tượng là có cơ sở. 5 Beadle Chris (2006), khi nghiên cứu về nuôi dưỡng rừng Keo và Bạch đàn tạo gỗ lớn cho rằng rừng tạo gỗ lớn yêu cầu có đoạn thân thẳng, tròn đều, ít khuyết tật và kích thước đủ lớn để có thể làm gỗ xẻ, do đó các biện pháp kỹ thuật chủ yếu được áp dụng là tỉa cành, tỉa thưa kết hợp bón phân.
Hạn chế kích thước cành là khâu kỹ thuật quan trọng trong tạo chất lượng thân cho gỗ lớn.Đối với Keo và Bạch đàn, cành có kích thước lớn hơn 20 mm rất dễ bị xâm nhiễm bệnh sau khi tỉa cơ giới hoặc chết tự nhiên.Trồng rừng mật độ cao để hạn chế phát triển cành ngang và tỉa cành tạo độ thẳng thân thường được áp dụng để hạn chế nhược điểm trên.Ngoài ra, tỉa cành nhỏ cũng được áp dụng sớm để tránh tạo mấu mắt trên gỗ.Việc tỉa cành có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây nếu cường độ tỉa quá cao làm giảm đáng kể diện tích lá cho quang hợp.Tuy nhiên, đối với loài cây mọc nhanh như Keo và bạch đàn, sự ảnh hưởng này ít hơn. Nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trồng Theo FAO (1999) những năm về cuối thế kỷ XX, tỷ lệ mất rừng vẫn thường xuyên xảy ra đặc biệt là ở các nước đang phát triển, các nước thuộc vùng nhiệt đới. Dự tính mỗi năm trái đất mất khoảng 11 triệu ha rừng, riêng Châu Á và Châu Phi mỗi năm mất khoảng 3% diện tích rừng. Trong 5 năm từ năm 1990 – 1995, 10 nước ASEAN mất khoảng 14 triệu ha rừng với tốc độ kỷ lục 1.4% diện tích rừng (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn, 2006).
Để xác nhận quản lý rừng bền vững (QLRBV) của chủ rừng cần được xác nhận bằng văn bản rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ QLRBV đã được sản xuất trên cơ sở rừng được tái tạo lâu dài, không gây ảnh hưởng xấu đến các chức năng sinh thái của rừng, môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học. Đó chính là ý tưởng cấp chứng chỉ rừng được FSC đề cập như là một “ công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện quản lý rừng của thế giới”; “là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý rừng (dẫn theo Lê Đức Thắng và cs, 2020). 6 Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có 77 nước được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (QLRBV) cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) và diện tích 57. Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN chủ yếu xoay quanh chủ đề QLRBV với 2 lý do, một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áp lực dân số, lương thực, khai thác lậu , cháy rừng…, hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế.
Theo tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo gồm 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC. Tuy vậy nên các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5 - 5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7 - 5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ QLRBV của FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002 - 2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế. Tại Indonesia, một tổ chức phi chính phủ (NGO) là “Viện sinh thái Lambaga” (viết tắt là LEI) ra đời vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước để hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ rừng nâng cao năng lực QLRBV đến khi đạt chứng chỉ gỗ quốc tế. Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999) tại khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch.
Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng (dẫn theo Evans J. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định những lợi ích và tầm quan trọng rừng đem lại cho cuộc sống của con người trên hành tinh, nhiều giả thiết 7 nhiều công trình nghiên cứu đã được đưa ra với mục đích duy nhất là quản lý rừng theo hướng bền vững. Nghiên cứu về sinh trưởng và hiệu quả kinh tế rừng trồng Peler.