Chương I TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Trên thế giới Trên thế giới, từ những năm đầu của thập kỷ 1960 việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái đã được chú ý. Vấn đề này được quan tâm nhằm đảm Bảo an toàn lương thực, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái. Nhiều phương thức canh tác ra đời nhằm sử dụng rừng và đất rừng có hiệu quả nhữ: ÄNông lãmXét hop, phương thức canh tác trên đất dốc.
ˆ 7e Đầu thập kỷ 1970, Quốc hội Hoa Kỳ bam Bành luật chính sách quốc gia về môi trường gọi tắt là NEPA. Theo luật này thỉ:các hoạt động kinh tế, kỹ thuật khi đưa ra xét duyệt đều phải kèm: eo đánh giá tác động môi trường. Tiếp theo Hoa Kỳ là Canada, Anh và Nhật cũng lần lượt ban hành luật đánh giá tác động môi trường. nN : Năm 1974, giáo sưJohn Es, Gunter trường Dai học tổng hợp thuộc bang Michigan — Mỹ đã xuất bản giáo trình: * Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư Lâm nghiệp”.
Trơn; z đó, chủ Yếu tác giả đưa ra các cơ sở để đánh giá hiệu quả rừng trồng. Đây là một giáo trình tương đối hoàn chỉnh để giới thiệu hệ thống chỉ tiêu và €ơ sở để đánh giá hiệu quả từ đơn giản đến phức tạp. Các chỉ tiêu cho phép đánh me higu qua kinh doanh rừng trồng về mặt kinh tế - xã hội và môi Sinh thai.” Năm c Nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO) đã xuất ñ Các dự án lâm nghiệp”, do Hans — Maregersen và lên soạn. Đây là một tài liệu tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả của Dự án Lâm nghiệp ở nhiều nước trên thế giới [19].
Đến những năm của thập kỷ 1980, khái niệm về phát triển bền vững đã được nêu ra và đến nay khái niệm này đã trở nên phỏ biến. Khái niệm bền vững được hiểu là một sự phát triển mà thỏa mãn những yêu cầu của hiện tại, 3 không làm ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu của tương lai. Từ khái niệm này có thể hiểu về phát triển bền vững một cách đơn giản là: “Phát triển bền vững là sự phát triển toàn diện và tổng hợp về các mặt kinh tế = xa hi va môi trường trong hiện tại và tương lai”. Năm 1992, hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio — Dejaneiro đã đi tới tiếng nói chung: phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kị h tế, xã hội và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững phạm vi quốc gia và trên thế giới.
Năm 1994, Walifrad Raquel Rola đã đưa ra mô phỏng về các phương thức canh tác. Theo mô phỏng này hiệu quả được đánh. giá theo quan điểm tổng hợp. Các ảnh hưởng tác động trên các mặt của một phương thức canh tác được tóm tắt theo sơ đồ sau Phương thức canh tác.
| Ỷ Ỷ > Tac động về kinh tế Tac dong về xã hội Tac động về sinh thái - Chi phi - Việclầm. -_ Xói mòn đất -_ Thu nhập ~_ Nhận thức - D6 phi cia dat - San xuat. y- Tiép thu ky - D6 ẩm của đất - Thị trường <. thuật -_ Độ tàn che Phát triển xã hội Cân bằng sinh thái và phát triển toàn diện kinh tế - k— Oi bao vệ môi trường sinh thái Sơ đồ1.1: tác động của phương thức canh tác ( Mô phỏng theo sơ đồ của W.Rola ) Từ sơ đồ trên cho thấy: hiệu quả của một phương thức canh tác được nghiên cứu đánh giá trên cả ba mặt: kinh tế — xã hội ~ môi trường sinh thái.
Tắt cả các ảnh hưởng, tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định va phát triển toàn diện kinh tế — xã hội — bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy, đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng về mặt phương pháp luận, cho tới nay đã tương đối hoàn chỉnh và ngày càng được phổ cập rộng rãi trên thế giới. Nhiều quốc gia đã và đang vận dụng đác phương pháp kỹ thuật trên đây trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trăn như: Ph (1974) đã tiến hành đánh giá hiệu quả Dự án tt vào niguyén liệu giấy của các hộ gia đình cho loài cây mọc nhanh Albizzia Baleataria, thuộc Công ty Công nghiệ giấy Philipin. Hiệu quả của Dự án Hưc đánh giá theo hai mặt: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế Ở đây người ta mới chỉ quan tâm đánh giá hiệu quả kinh doanh về mặt tài chính của cáchộ gia đình, còn hiệu quả xã hội, môi trường sinh thái chưa được quan tâm đành giá đầy đủ.
Từ năm 1980, các loài Keo đã được dite vào thử nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúnft nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin’ với 7 loài, cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ 3 ở cẩ hái điệm thí nghiệm (HaVmoller, 1989, 1991) [20]. Riêng đối với Keo lai, Keo lai được Messrs Hepbum và Shim phát hiện năm 1972 trong nhất hàng cây trồng ven đường. Năm 1978 khi xem xét các mẫu tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) Pedkey đã xác nhận đó là giống lai tự nihfên giữa eo tai tượng và Keo lá tràm.
Ngoài ra nó cũng được phát hiện trọngtự Thiền ?apUu New Guinea (Tum bull, 1986; Grinfin, 1988), dẫn theo Lê Đình Khả (1697) [7]. Brown và Pearce (1994) [18], đưa ra các số liệu đánh giá trữ lượng Carbon cia 1 ha rừng nguyên sinh là khoảng 280 tấn và nó sẽ phát thải 200 tấn Carbon nếu bị chuyển thành đất nương rẫy và lượng phát thải sẽ cao hơn nếu bị chuyển thành đất đồng cỏ hay đất nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn Carbon và trữ lượng Carbon của rừng sẽ giảm từ 1/3 - 1/4 khi rừng chuyển sang đất canh tác nông nghiệp. HansM — Gregersen va AmldoH.Contresal (1997) [19], trong cuốn “Phân tích kinh tế các Dự án trong Lâm nghiệp” đã đưa ra các phương án tính hiệu quả kinh tế rừng trồng với các nội dung cơ bản về lãi suất, cơ sở tính lãi suất, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế.
- Như vậy trên thế giới việc đánh giá hiệu quả cấc mô hình rừng trồng đã được chú ý rất nhiều và phổ cập rộng rãi được nhiều quốc siganan dung. Ở Việt Nam ^% <5 Ở Việt Nam việc trồng rừng đã được bắt đầu từ20 Pháp thuộc. Trải qua nhiều thập kỷ, chúng ta đã đi vào kinh doanh rừng trồng trên diện rộng và phổ biến với nhiều phương thức, nhiều loài cây trồng khác nhau. Tuy nhiên đã nhiều năm chúng ta mới chỉ chú ý đến hiệu quà kinh tế mà chưa chú ý đến hiệu quả xã hội và môi trường sinh thái.
Do đó) Nương thức đánh giá hiệu quả của các mô hình rừng trồng đến nay-vẫn cờn mới mẻ. Năm 1983, Việt Nam bắt đầu đi sâu vào nghiên cứu chính thức chương trình về tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Năm 1985, trong, quyết định về điều tra sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, sinh thái. Hội đồng Bộ trưởng có nêu: “Trong xét duyệt luận chứng kính tế kỹ thuật của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng cần tiền hành đánh giá tác động môi trường.
Có thể nói đây là một văn es ø mở ra một thời kỳ mới và cũng từ đây việc đánh giá tác đội % trở thành một yêu cầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộïở hước. Năm 1991, Việt Xấu đã soạn thảo và phát triển chiến lược về bảo vệ môi trường gồm: “Việt Nam kế hoạch hóa quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền 1991 — 2002”. Trần Hữu Đào (1995) [5], đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cả ba mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh 6 thái của mô hình rừng trồng Quế thâm canh thuần loài quy mô hộ gia đình ở Văn Yên - Yên Bái. Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội - hiệu quả môi trường.
Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của Keo lai và hai loài bố mẹ của Lê Dinh Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải (1999) [8] cho thấy ở giai đoạn vườn ươm 3 tháng tuổi các dòng Keo lai đã được lựa chọn có số lượng nốt sẵn từ 39,9 — 80,3 cái /cây, gấp 2,5 — 13 lần các loàibố me. Khối lượng tươi của các nốt sần ở các dòng Keo lai từ 0,39— 0,47p/cay, ‡ trong khi đó của các loài bố mẹ là 0,075— 0,15 g/cây. Còn khối lượng Ic nốt sần ở các dòng Keo lai là 0,08 — 0,13 g/cây, gấp 5 — 12 lần các l ài Keơ Bồ mẹ (0,011 — 0,017 g/cây). 7 Nghiên cứu khả năng chịu hạn của.một số dong Keo lai được lựa chọn tại Ba Vì, Lê Đình Khả, Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thiên Hương (1999) [8], trong các dòng Keo lai được lựa chọn có sựkhác nhau về cường độ thoát hơi nước, áp suất thẩm thấu, độ âm cây-héo và 'thể hiện tính chịu han cao hơn bố mẹ.
Trong đó dòng BV32 có“Stteychiu: chan khá nhất, tiếp theo là các dòng BV5, BV10, BV16. ` Để đánh giá sản luệếg/£ùng trồng Keo lai, Phạm Thế Dũng và Hồ Quang Phúc (2004) [3], tiền hành nghiên cứu các lập đại khác nhau và thấy rằng Keo lai cho năng suất tương đối cao, xao nhất là 33m/năm (bình quân 7 năm) trên đất feralit đỏ vàng trên sa thạch ở trạm Phú Bình và thấp nhất 25 mÌ/năm và trữ lượng Carbon trong rimg trồng Keo lai tỷ lệ thuận với tuổi rừng và sinh trưởng rừng, cao nhất ở miền Nam, tiếp đến là miền Trung và thấp nhất là ở miền Bắc. Lượng Carbon do rừng Keo lai hấp thụ từ 7 - 10 lần Carbon/ha/năm (tương đương với 26 36 tắn COz/ha/năm). Nghiên cứu về tăng trưởng của rừng Keo tai tượng, Ngô Đình Quế và Đỗ Đình Sâm (1998) [15], cho rằng Keo tai tượng ở Đông Nam Bộ cho tăng trưởng đường kính từ 2,7 — 3,2 cm/năm và chiều cao có thể đạt được 3,0 — 3,5 m/năm.
Hà Quang Khải (1999) [9], nghiên cứu quan hệ sinh trưởng và tính chất đất của Keo tai tượng trồng thuần loài tại Núi Luốt, Xuân Mai - Hà Nội ( Hà Tây cũ), kết quả Keo tai tượng 8 tuổi trồng thuần loài trên đất feralit nâu Hà Nội đạt eác chỉ tiêu sinh vàng, đá mẹ Poocfiarit tại Núi Luốt, Xuân Mai: trưởng Dị; = 12,6 em, Hạ = 12,7 m.