MỞ ĐẦU Hệ thống 3 loại rừng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Hệ thống rừng đặc dụng được coi là chiến lược bảo tồn thiên nhiên lâu dài của Việt Nam và là cơ hội tồn tại của các loài động, thực vật đang bị đe doạ. Năm 1962, khu rừng cấm quốc gia đầu tiên Cúc Phương đã được thành lập. Hệ thống rừng đặc dụng chính thức được thành lập theo Quyết định số 194/TTg ngày 9/8/1986 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) với 86 khu được chia làm 3 loại: Vườn quốc gia (VQG), Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường.
Ngày 17/9/2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu BTTN Việt Nam đến năm 2010 có tổng diện tích 3.321 ha, chiếm trên 9% diện tích tự nhiên toàn quốc với 133 khu rừng đặc dụng trong đó có 32 VQG, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 28 khu bảo tồn loài, nơi cư trú và 21 khu bảo tồn cảnh quan. [3] Do rừng bị thu hẹp, ĐDSH bị đẩy lùi tới những vùng núi nên hầu hết các khu rừng đặc dụng phân bố ở vùng sâu xa, nơi đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Mỗi một khu rừng đặc dụng có những đặc điểm đặc trưng riêng biệt nhưng thường có đặc điểm chung là địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, kinh tế xã hội chưa phát triển, dân cư thưa thớt. Đặc điểm này đã gây ra không ít khó khăn và trở ngại cho công tác quản lý các khu rừng đặc dụng trong những năm qua.
Lực lượng quản lý về lâm nghiệp mỏng, nhiều nơi không đủ điều kiện thành lập ban quản lý rừng đặc dụng. Trình độ hiểu biết về ĐDSH cũng như tổ chức quản lý rừng đặc dụng còn hạn chế. Tuy đã được Chính phủ và Chính quyền các cấp quan tâm nhưng kinh phí giành cho các hoạt động BTTN vẫn rất hạn hẹp. Nhiều khu rừng đặc dụng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, không đầu tư, không chủ quản lý.
Cũng có nhiều khu tuy đã có ban quản lý nhưng lực lượng mỏng, hoạt động kém hiệu quả. Những đặc điểm này là nguyên nhân dẫn đến rừng và ĐDSH của các khu rừng đặc dụng vẫn tiếp tục bị tác động và suy giảm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên10 http://www.vn Từ trước tới nay, việc xây dựng các khu rừng đặc dụng cũng như xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động vẫn thường được tiếp cận từ trên xuống, chưa quan tâm đến người dân sống trong và gần các khu rừng đặc dụng. Điều này đã đặt người dân với vai trò là người ngoài cuộc trong công tác bảo vệ rừng và BTTN.
Tiềm năng to lớn của người dân về lực lượng, về những hiểu biết và kinh nghiệm lâu đời trong quản lý, sử dụng tài nguyên chưa được khai thác ứng dụng. Trong khi đó, BTTN thường mâu thuẫn với những lợi ích của người dân vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng. Nhiều nơi, thay vì tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản lý bảo vệ rừng và chính quyền địa phương. Để giảm bớt các áp lực đối với các khu rừng đặc dụng, chia sẻ gánh nặng đối với chính quyền địa phương các cấp trước tình trạng trên thì việc tham gia của người dân trong công tác BTTN là rất cần thiết.
Sự tham gia của người dân không chỉ dừng lại ở mức độ thụ động, mà cần phải nâng cao hơn nữa như được giao đất, giao rừng, chủ động tham gia vào quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Từ đó mới đánh giá đúng đắn vai trò của người dân trong công tác bảo vệ rừng và BTTN, sử dụng và chia sẻ lợi ích. Trên cơ sở đó người dân mới thực sự tự nguyện tham gia vào công tác bảo tồn, cũng như những hiểu biết và kinh nghiệm của người dân mới được ứng dụng ngay trên mảnh đất hàng ngày họ đang sinh sống. Trước tình hình đó, Nhà nước đã triển khai một số chương trình, dự án hỗ trợ cho người dân vùng đệm với số tiền không nhỏ.
Tuy nhiên các dự án này chưa thực sự có tác dụng nhiều trong việc thu hút người dân địa phương vào bảo vệ rừng và BTTN tại các VQG, khu BTTN trên cả nước. VQG Xuân Sơn được thành lập theo Quyết định 49/2002/QĐ-TTg, ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ, là một trong 32 VQG có trên lãnh thổ Việt Nam, là địa bàn không những có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, mà còn là hành lang giao lưu phát triển kinh tế nối liền vùng Tây Bắc và Đồng bằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên11 http://www.vn Bắc bộ. Với diện tích tự nhiên là 33.687 ha bao gồm vùng lõi là 15.048 ha và vùng đệm 18.639 ha trong đó diện tích rừng núi đá vôi chiếm khoảng 10%, độ che phủ của rừng chiếm 60,5%. VQG Xuân Sơn nằm trong dãy núi liên hoàn phía Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, đồng thời là lá phổi xanh của tỉnh Phú Thọ, rừng đầu nguồn sông Bứa và các chi lưu của sông Đà, sông Hồng.
Nơi đây còn nổi tiếng với vùng rừng núi có nhiều cảnh quan tự nhiên đa dạng kỳ thú, làm nền tảng cho sự hình thành phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên.[22] VQG Xuân Sơn cũng như các VQG và khu BTTN khác trong cả nước đang đứng trước thách thức rất lớn về áp lực tác động trực tiếp của người dân vùng đệm lên tài nguyên rừng của VQG, mặt khác chưa có nghiên cứu cụ thể nào về sự tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại vùng đệm của VQG Xuân Sơn, chưa tìm được những nguyên nhân cản trở người dân tham gia bảo vệ tài nguyên rừng. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng vùng đệm VQG Xuân Sơn từ đó đề xuất các giải pháp thu hút cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ tài nguyên rừng góp phần giảm áp lực của cộng đồng dân cư sống trong vùng đệm tới VQG, luận văn tiến hành nghiên cứu với tựa đề: “Nghiên cứu sự tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên12 http://www.vn Chƣơng I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu: 1. Cộng đồng địa phương và quản lý rừng cộng đồng: Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phương là nhóm người cùng sống trên một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau.
[16] Phạm Xuân Phương (2001) [12], trong báo cáo hội thảo quốc gia “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2001 cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thường có danh giới không gian trong một làng bản”. Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004 [14], thì cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương. Như vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thôn, làng bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung,… trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa cộng đồng địa phương là thôn, xóm. Quản lý rừng cộng đồng là quản lý tài nguyên rừng mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý.
Những giải pháp quản lý rừng cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, chính sách pháp luật,… trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò cá nhân, thì các nước đang phát triển đặc biệt là vùng Châu Á - Thái Bình Dương vấn đề gia đình và cộng đồng lại được đánh giá cao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên13 http://www.vn Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.[20] Quản lý rừng cộng đồng là hoạt động quản lý rừng được thực hiện trên diện tích được giao cho các hộ gia đình, các nhóm hộ, các tổ chức chính trị xã hội ở thôn bản, hay cho cả thôn bản. Trên cơ sở giao đất lâm nghiệp, các tổ chức lâm nghiệp của Nhà nước hỗ trợ cộng đồng thôn bản tự quản lý một cách bền vững tài nguyên rừng dựa trên sự phối hợp và hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng cũng như giữa cộng đồng với tổ chức chính quyền địa phương. Quản lý bền vững nguồn tài nguyên rừng tại cộng đồng nhằm đạt được các mục tiêu tăng thu nhập, tăng các sản phẩm lấy từ rừng, tăng độ che phủ của rừng, cải thiện nguồn nước nhưng không trái pháp luật của Nhà nước.
Như vậy, quản lý rừng cộng đồng là tất cả các hoạt động quản lý rừng do người dân thôn bản (hộ gia đình, nhóm hộ, thôn, bản) thực hiện trên diện tích đất lâm nghiệp được giao và khoán trên cơ sở hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng với các tổ chức ngoài cộng đồng. Vùng đệm và quy chế quản lý vùng đệm ở Việt Nam: Gần đây nhất, khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Chính phủ. Một lần nữa vùng đệm được xác định nằm ngoài VQG, Quyết định này đã đề cập một cách tương đối toàn diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các hoạt động và sự phối kết hợp giữa các bên liên quan trong việc phát triển kinh tế, xã hội vùng đệm. Theo Quyết định này [19].
Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và khu BTTN bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và khu BTTN. Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG và Khu BTTN. VQG và khu BTTN phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng.