Đặt vấn đề Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao, các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm…, đây được coi là một trong thách thức đáng kể của nhân loại trong thế kỷ 21. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu chủ yếu là do các hoạt động của con người, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển. Nguồn phát sinh KNK là sử dụng năng lượng từ việc đốt cháy nhiên liệu, sản xuất công nghiệp (khai thác khoáng sản, sản xuất hóa chất…), sản xuất nông lâm nghiệp (sử dụng phân bón, cháy rừng…) và quản lý chất thải.
Các hệ sinh thái rừng không chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp lâm sản cho sản xuất và đời sống, mà quan trọng hơn là việc cung cấp các dịch vụ môi trường rừng, trong đó hấp thụ và lưu giữ carbon là một trong các dịch vụ góp phần vào sự giảm phát thải KNK và biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhằm ngăn chặn phát thải KNK, giảm thiểu sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto đã được phê chuẩn. Trên cơ sở đó, các nỗ lực đang tập trung xem xét các giải pháp lâm nghiệp, đặc biệt là việc bảo vệ và phát triển rừng - giải pháp quan trọng trong giảm thiểu phát thải KNK. Vào ngày 11 tháng 11 năm 2015, Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 19 (COP 19) đã khai mạc tại Warsaw (Ba Lan).
Hội nghị diễn ra từ ngày 11- 22/11 với sự tham dự của đại diện từ 200 e 2 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các nước sẽ tập trung thảo luận thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu để thay thế cho Nghị định thư Kyoto sẽ hết hạn vào năm 2020. Nghị định thư kyoto với cơ chế phát triển sạch CDM mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển trong việc tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện các dự án lớn về Lâm nghiệp như (trồng rừng, phục hồi rừng, quản lý bảo vệ rừng tự nhiên, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng Nông lâm kết hợp…) góp phần phát triển đất nước theo hướng bền vững. Nghiên cứu khả năng hấp thụ lượng CO2 là một hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm và phát triển.
Do vậy, đây cũng được xem là hướng đi quan trọng đối với những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trong việc tiến tới xóa đói, giảm nghèo phát triển kinh tế từ những giá trị thu được từ dịch vụ môi trường rừng. Phương pháp nghiên cứu hấp thụ CO2 của rừng trên thế giới đã được nhiều tổ chức nghiên cứu và xây dựng, tuy nhiên các phương pháp này cần được tiếp tục phát triển đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới để đưa ra giải pháp xác định, dự báo lượng carbon tích lũy một cách khoa học và có tính thực tiễn khi tham gia chương trình REDD cũng như phục vụ cho sau này. Riêng ở nước ta cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh về xác định lượng carbon trong hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam. Vật rơi rụng như lá, cành, hoa, quả.
rơi xuống mặt đất tạo thành lớp thảm thực vật dưới tán cây và bị phân giải ở những mức độ khác nhau. Nó là sản phẩm đặc trưng và là một thành phần của hệ sinh thái rừng giữ vai trò quan trọng trong đời sống của rừng. Thảm mục rơi rụng là một trong những hình thức của quá trình chu chuyển vật chất và năng lượng, trả lại phần nào chất dinh dưỡng khoáng và mùn cho đất. Là môi trường sinh sống và nguồn dinh dưỡng chính cho vi sinh vật đất và một số loài động vật khác.
Nó có tác dụng điều hoà nhiệt độ đất rừng, giữ ẩm, điều hoà nguồn nước, ngăn cản dòng e 3 chảy trên mặt đất, tăng lượng nước thấm, giảm lượng bốc hơi mặt đất, có ảnh hưởng đến tái sinh, sinh trưởng và phát triển của rừng. Đồng thời nó cũng là một bể chứa carbon của quần thể rừng. Nghiên cứu khả năng cố định CO2 của rừng nhằm định giá kinh tế của rừng, mà các nước có nguồn phát thải khí CO2 lớn phải trả lại phí môi trường nhằm bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu. Nghiên cứu hấp thụ CO2 của rừng đã được nhiều tổ chức quốc tế xây dựng phương pháp, tuy nhiên cần chú ý đến rừng tự nhiên nhiệt đới để đưa ra giải pháp xác định lượng carbon tích lũy khoa học và thực tiễn hơn.
Vì vậy nghiên cứu ước tính lượng CO2 hấp thụ của rừng tự nhiên là cần thiết. Với những lý do trên tôi tiến hành làm đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của tầng vật rơi rụng rừng phục hồi IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Góp phần ứng dụng và phát triển phương pháp ước lượng và dự báo năng lực hấp thụ CO2 ở tầng vật rơi rụng rừng phục hồi (IIA), tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở định giá giá trị của rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm sinh khối của vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định lượng CO2 hấp thụ thông qua lượng carbon tích lũy ở tầng vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Uớc tính giá trị thương mại carbon của vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học e 4 Thực hiện đề tài này, sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lí, tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả, cũng như viết một báo cáo nghiên cứu, một phần việc quan trọng cho công việc trong tương lai.
Tích lũy được kỹ năng học tập và quan sát, thực hành. Hiểu rõ các hoạt động diễn biến xảy ra trong tự nhiên cũng như sự tác động của con người vào tự nhiên. Được thực hành nghiên cứu khoa học, biết phân bố thời gian hợp lý để đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở củng cố những kiến thức đã học ở nhà trường để đi vào thực tế. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Ngày nay, đất nước ta đang sử dụng nguồn tài nguyên nhiên khoáng sản cũng như chất đốt của con người bừa bãi làm cho nồng độ CO2 ngày càng tăng nhanh.
Nghiên cứu này giúp ta biết được sự ảnh hưởng của CO2 đến môi trường và tác dụng của vật rơi rụng với hấp thụ CO2, trong xu thế toàn cầu đối phó với biến đổi khí hậu, các thảm thực vật ở rừng phục hồi có giá trị lớn trong việc hấp thu khí CO2, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Phát triển và lượng hóa khả năng tích lũy C của thảm rừng này là một trong hoạt động của chương trình “Giảm thiểu khí phát thải từ suy thoái và mất rừng - REED”. Ủy ban liên quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC) đã chấp nhận sự tham gia và thúc đẩy các nước đang phát triển thực hiện mục tiêu giảm phát thải bằng cách mua các tín dụng Các bon của các nước từ những khu rừng hấp thụ CO2. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp định lượng C đối với rừng tự nhiên nhiệt đới rất khó và tốn kém đặc biệt trong điều kiện Việt Nam.
Do vậy, ước lượng một cách tương đối lượng C mà lâm phần có thể tích lũy bằng phương pháp đánh giá nhanh, ít tốn kém là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong điều kiện hiện tại Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài ta xác định được hàm lượng CO2 được hấp thụ từ đó làm cơ sở để thu phí môi trường và định hướng phát triển e 5 nền lâm nghiệp sạch (ARCMD). Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xác định nhanh lượng CO2 hấp thu, từ đó làm cơ sở dự tính giá trị kinh tế của rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. e 6 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Công ước liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu Kết quả phân tích của đài thiên văn Mauna (trên đảo Ha oai) cho biết hàm lượng CO2 khí quyển năm 1958 là 315ppm. Đến năm 1989 việc phân tích đã cho thấy hàm lượng đioxit carbon đã tăng lên 350ppm và đến năm 1990 là 354ppm. Như vậy trong khoảng thời gian 1 thế kỷ hàm lượng đioxit carbon đã tăng lên 25%. Sự tăng cao hàm lượng CO2 trong không khí sẽ dẫn tới nhiều hậu quả do ô nhiễm môi trường.
Sự tăng cao này đến một mức nào đó sẽ gây hại cho sự sống của con người và sinh vật. Có 2 cứu tinh có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn đioxit carbon phát thải vào không khí bởi con người là đại dương và thảm thực vật, nhờ đó hàm lượng CO2 đã giảm đi. Những kết quả của Ban Liên chính phủ đã thúc giục cộng đồng quốc tế thành lập Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển - hay còn gọi là “Hội nghị thượng đỉnh Trái đất” tại Rio de Janeiro năm 1992, Công ước đã được thông qua.
Mục tiêu của Công ước là nhằm ngăn ngừa những hoạt động có hại của loài người đến hệ khí hậu trên trái đất. Công ước có hiệu lực năm 1994. Cho đến nay trên toàn thế giới đã có 195 nước ký kết Công ước (UNFCCC, 2011).