Mở đầu, 4 trang. Tổng quan vấn đề nghiên cứu, 23 trang. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu, 22 trang. Kết quả nghiên cứu và thảo luận, 60 trang.
Kết luận, tồn tại và kiến nghị, 3 trang. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về tc u o ic g Khi nghiên cứu về rừng, nhà lâm học quan tâm đến thành phần loài cây gỗ, vai trò và tính ổn định của chúng trong quần xã thực vật.
Nhiều nhà lâm học Richards, 1952; Baur, 1961) [40], [1], cho r ng mỗi kiểu rừng đƣợc hình thành bởi những loài cây khác nhau. Vì thế, khi phân tích tổ thành rừng, cần phải xác định tên loài cây và tỷ lệ của mỗi loài. Dựa vào những loài cây hình thành rừng, Richards 1952) [40] đã phân chia rừng mƣa nhiệt đới thành 2 nhóm. Nhóm 1 là rừng mƣa hỗn hợp với nhiều loài cây ƣu thế và đồng ƣu thế.
Nhóm 2 là rừng mƣa đơn ƣu thế. Theo Richards 1968) [41], tổ thành thực vật của rừng nhiệt đới ẩm ở Đông Nam Á thƣờng có một nhóm loài chiếm ƣu thế đến 50% quần thụ. Đó là những loài cây gỗ của họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae). Trong tổ thành rừng mƣa nhiệt đới, có hơn 40 loài cây gỗ trên mỗi hecta.
Trong sinh thái học và lâm học, vai trò của các loài cây gỗ trong quần xã thực vật rừng (QXTV) có thể đƣợc xác định theo nhiều phƣơng pháp khác nhau do Curtis và McIntosh 1951 đề xuất đã sử dụng thuật ngữ ch số giá trị quan trọng của loài IVI%) để biểu thị cho vai trò của loài trong QXTV. Ch số IVI% đƣợc tính b ng tổng hoặc giá trị trung bình của ba tham số: độ thƣờng gặp tƣơng đối F%), mật độ tƣơng đối N%) và tiết diện ngang thân cây tƣơng đối G%) dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) [48]. Ch số IVI đƣợc xác định theo hai phƣơng pháp kể trên có nhƣợc điểm là nó thay đổi tùy theo kích thƣớc và số lƣợng ô mẫu. Khi số lƣợng ô mẫu lớn, thì việc tính ch tiêu F sẽ gặp khó khăn dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) [48], 6 Khi nghiên cứu về cấu trúc và tổ thành thực vật sau tác động của con ngƣời và sự xâm lấn của thực vật Addo-Fordjour và cs (2009) [58] đã thiết lập ngẫu nhiên 3 ô tiêu chuẩn 50 x 50 m), tƣơng ứng với 3 khu rừng tại khu bảo tồn Tinte Bepo cho thấy có 108 loài thực vật thuộc 37 họ, 77 chi và 88 dạng sống đƣợc tìm thấy trong tất cả các khu rừng, trong đó loài Celtis mildbraedii.
Eng và Triplochiton scleroxylon K.Shum là loài chiếm ƣu thế. Khi nghiên cứu sự đa dạng các loài thực vật và đặc điểm cấu trúc của rừng ở Vƣờn Quốc gia Dulhazara Safari của Bangladesh, Mijan Uddin và Misbahuzzanman (2007) [80] đã thống kê đƣợc 560 cá thể có đƣờng kính D1.3 >5 cm của 82 loài đại diện thuộc 31 họ và 62 chi, xác định đƣợc bốn tầng chính với các loài chiếm ƣu thế khác nhau. Kết quả tính toán ch số IVI% của tác giả cho thấy, họ Dầu là họ chiếm ƣu thế với loài Dầu bao Dipterocarpus turbinatus). Nghiên cứu về tái sinh, vật hậu v hạt giống Tái sinh tự nhiên của rừng là một quá trình rất phức tạp.
Khi nghiên cứu tái sinh rừng, ngƣời ta thƣờng tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế. Các nhà nghiên cứu cho r ng hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mƣa ch tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dƣới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi. Van Steenis (1956) [89] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mƣa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ƣa sáng.
Richards (1952) [40] đã tiến hành nghiên cứu tái sinh ở rừng mƣa nhiệt đới và cho xuất bản cuốn “Rừng mƣa nhiệt đới”. Kết quả nghiên cứu cho thấy tái sinh rừng mƣa nhiệt đới vô cùng phức tạp, cây tái sinh tự nhiên chủ yếu có phân bố cụm một số khác có phân bố Poisson. Theo Ghent (1969) [71], tầng cây bụi thảm tƣơi có ảnh hƣởng lớn đến quá trình tái sinh của loài cây gỗ 7 đồng thời thảm mục và chế độ thủy nhiệt tầng đất mặt đều có ảnh hƣởng tới tái sinh tự nhiên ở mức độ khác nhau. Trong nghiên cứu tái sinh rừng, ngƣời ta nhận thấy r ng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dƣỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hƣởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Dƣới những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dƣỡng khoáng thảm cỏ và cây bụi sinh trƣởng kém nên ảnh hƣởng của chúng đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngƣợc lại, ở những lâm phần rừng thƣa hoặc đã qua khai thác thảm cỏ có điều kiện phát triển mạnh mẽ, khiến chúng trở thành nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng Xannikov, 1967; Vipper, 1973; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [46]. Giáng hƣơng ở Thái Lan nẩy chồi vào tháng 2-3, hoa nở và thụ phấn tháng 3-4, kết thúc thụ phấn vào đầu tháng 5 Ramin và Owens, 1998) [85]. Quả Giáng hƣơng hình thành từ tháng 5, quả chín vào tháng 10-11, khi đó cũng là lúc bắt đầu rụng Coles và Boyle, 1999) [63].
Kết quả nghiên cứu về cây Cóc hành của Dorthe Jᴓker 2000) [67] cho thấy, thời gian ra hoa và kết quả của Cóc hành thay đổi giữa các địa phƣơng. Ở phía bắc Thái Lan, Cóc hành rụng lá vào tháng giêng tới tháng hai. Lá non mọc ngay khi lá già rụng, khi lá mới chuyển sang màu xanh cây bắt đầu ra hoa. Cóc hành ra hoa từ tuổi 6 đến tuổi 7.
Hoa ra làm 2 đợt, đợt 1 vào khoảng tháng 2 và tập trung vào tháng 3, đợt 2 vào tháng 4 - 5. Hoa có mùi thơm, dài từ 5,0 - 6,5 mm, rộng từ 1,5 - 2,5 mm và bông dài khoảng 4 mm. Nhụy chia thành ba lá noãn. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng, tái sinh tự nhiên, vật hậu và hạt giống của các quần thể rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng trên thế giới rất phong phú.
Nhiều công trình nghiên cứu đã đem 8 lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng. Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp l nh m quản l tài nguyên rừng một cách bền vững. t số nghiên cứu về tr ng r ng g n ng c g ản Theo Matti Leikola (1995) [77], các nhà lâm nghiệp đã biết thực hiện từ rất sớm trong các nghiên cứu chọn loài cây trồng rừng. Từ những thử nghiệm thăm dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm đƣợc bố trí một cách nghiêm túc theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn loài cây thích hợp cho mỗi vùng sinh thái.
Ở một số nƣớc đã có một số nghiên cứu xây dựng các mô hình toán để tối ƣu cơ cấu cây trồng cho từng vùng. Ở các nƣớc vùng ôn đới số loài cây chính dùng trong trồng rừng thƣờng không nhiều, nên ngƣời ta đã tìm hiểu mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài riêng biệt. Khi nghiên cứu về trồng loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trong các mô hình rừng trồng, Matthew và cs 1995) [78] đã xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu. Kết quả cho thấy, cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính.
Kết quả này cho thấy sử dụng các loài cây họ đậu làm cây phù trợ cho các loài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp. Ngoài việc xác định đƣợc loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài. Trong nghiên cứu trồng một số loài cây gỗ bản địa trong rừng thứ sinh Negeri Sembilan, Malaysia Affendy và cs, (2009) [59] đã trồng thử nghiệm thành công trên 42 ha với 5 loài cây gỗ bản địa nh m kinh doanh gỗ lớn theo phƣơng thức làm giàu rừng theo đám. Hashim và cs 2015) [72] đã đánh giá lại lịch sử trồng rừng của Malaysia cho biết, trƣớc những năm 1980 chủ yếu trồng các loài Thông, sau thời kỳ này chuyển sang trồng một số loài cây mọc nhanh nhƣ Keo và Bạch 9 đàn và một số loài cây gỗ bản địa nhƣ Tếch, Dầu rái, Nhạc ngựa, Xà cừ, Cao su lấy gỗ.
Các tác giả cũng cho biết trong chiến lƣợc trồng rừng, Malaysia đã đề xuất nhiều loài cây cho từng loại rừng trồng theo các luân kỳ khác nhau. Đối với luân kỳ ngắn từ 15 đến 25 năm, mật độ trồng ban đều từ 1.110 cây/ha đến 2.500 cây ha, t a thƣa 2 lần vào tuổi 4-6 và tuổi 15 cho các loài bản địa gỗ lớn mọc nhanh nhƣ Berembang bukit Duabanga grandiflora), cây Vừng (Endospermum diadenum), cây Choại Terminalia bellirica), Thục quỳ (Maesopsis eminii). Với luân kỳ ngắn, trung bình 45 năm đến 60 năm, thì chọn các loài ƣa sáng, t a thƣa 3 lần gồm một số loài họ Dầu nhƣ Dầu rái, Sao đen, một số loài Sến. Nh ng nghiên cứu về chi Chiêu iêu v o i Chiêu iêu nư c 1.4 1 Ph n o i th c v t v đ c điểm h nh th i Chi Terminalia là chi lớn thứ hai của họ Bàng Combretaceae) với khoảng 200 loài cây gỗ và cây bụi.
Hầu hết các loài thuộc chi này đều là những cây gỗ lớn, đặc biệt có loài có chiều cao lên tới 75 m Fahmy và cs, 2015) [70]. Theo các tài liệu mô tả về thực vật ở Trung Quốc Flora of China, 2007) [93], đặc điểm chung của chi Chiêu liêu thƣờng là cây lớn hiếm khi là cây bụi, cây gỗ thƣờng xanh hoặc rụng lá. Cành mọc theo tầng, lá hình xoắn ốc, mọc đối hoặc mọc cách, ít khi mọc vòng, mép lá nguyên, đôi khi có răng cƣa, gốc lá thƣờng có tuyến. Phiến lá hình thuôn, hình elip hoặc ô van, có lông hoặc nh n, Cánh hoa 4 hoặc 5, hoa lƣỡng tính.
Quả giả có múi hoặc có 2 đến 5 cánh, quả thịt hoặc quả khô có 1 hạt. Chiêu liêu nƣớc có tên khoa học là Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe. Tên thƣơng mại là Kwako, Yellow terminalia.