CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIEN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NHTM 1.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Quan niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ Ngân hàng điện tử được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau. Dịch vụ Ngân hàng điện tử có thể hiểu là “một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu, thu thập thông tin hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng (thực hiện các giao dịch thanh toán, đăng ký sử dụng dịch vụ.) thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng”. [13] Hoặc “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động.) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử”.
[12] Như vậy, theo các cách hiểu trên, NHĐT đều được hiểu thông qua các dịch vụ cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử. Dịch vụ ngân hàng điện tử hiểu theo nghĩa đơn giản nhất đó là loại dịch vụ ngân hàng mà khách hàng không cần trực tiếp đến quầy vẫn có thể thực hiện giao dịch. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là một phương thức cung cấp các sản phẩm đến khách hàng thông qua các kênh phân phối điện tử tương tác, sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. NHĐT là một dạng của thương mại điện tử được ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
NHĐT thường tồn tại dưới hai hình thức: ngân hàng trực tuyến, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường internet và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hóa dịch vụ truyền thống. NHĐT tại Việt Nam chủ yếu đi theo mô hình thứ hai (điện tử hóa các dịch vụ truyền thống và phát triển các tiện ích mới trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin).2 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử Thực chất, dịch vụ Ngân hàng điện tử là một kênh giúp khách hàng và Ngân hàng thực hiện trao đổi lẫn nhau các thông tin tài chính. Ngân hàng điện tử ra đời nhằm mang lại nhiều tiện ích, nhanh chóng, rút ngắn thời gian giao dịch giữa Ngân hàng với khách hàng. Hiện nay, dịch vụ NHĐT đã phát triển khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới với loại hình sản phẩm và dịch vụ đa dạng.
Dưới đây là các dịch vụ ngân hàng điện tử phổ biến nhất và đang được các NHTM quan tâm phát triển: ❖ Trung tâm chăm sóc khách hàng (Call center): Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và thông tin cá nhân. Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập trình sẵn, Call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược điểm của Call centre là phải có người trực 24/24 giờ. ❖ Dịch vụ ngân hàng tại nhà (home-banking): Với ngân hàng tại nhà (home banking), khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ do các NHTM xây dựng riêng.
Theo đó, Ngân hàng sẽ cài đặt chương trình trực tiếp trên máy tính của khách hàng. Các giao dịch được thực hiện thông qua hệ thống máy tính có kết nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng. Bằng cách truy cập Home-banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, tra cứu thông tin, nhận điện báo có,. Để sử dụng được dịch vụ Home banking khách hàng chỉ cần có máy tính kết nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng mạng thông qua modem - đường điện thoại quay số, đồng thời thực hiện đăng ký số điện thoại của mình và chỉ những số điện thoại đã đăng ký mới được kết nối với hệ thống Home banking của Ngân hàng.
Với dịch vụ này, bằng một số thao tác trên máy tính, khách hàng có thể thực hiện một lệnh chuyển tiền đến ngân hàng nhanh gọn mà không phải trực tiếp đến quầy. Tại ngân hàng, hệ thống Home-banking sẽ rà soát, kiểm tra xem có đầy đủ 2 7 chữ ký xác nhận rồi mới thực hiện lệnh giao dịch. Do những đặc thù của loại hình này nên số khách hàng hiện nay chỉ mới thu hẹp trong phạm vi những tổ chức, doanh nghiệp quy mô lớn có giao dịch thường xuyên với ngân hàng. ❖ Dịch vụ ngân hàng qua mạng internet (Internet banking): là một loại hình dịch vụ tương tự với Home Banking, nó phổ biến và thân thiết hơn với khách hàng, phục vụ cho cả doanh nghiệp và cá nhân, tuy nhiên xét về tính bảo mật, Home Banking có tính năng bảo mật cao hơn.
Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng thực hiện giao dịch trên mạng thông qua các tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. Khi khách hàng đăng ký sử dụng Internet Banking, Ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng một tên truy cập và password để đăng nhập. Khách hàng có thể truy cập vào địa chỉ trang web của ngân hàng, đăng nhập và thực hiện giao dịch tài chính (chuyển tiền, gửi tiết kiệm, thanh toán thẻ, hóa đơn.), truy vấn thông tin cần thiết (lãi suất, tỷ giá, lịch sử giao dịch. Hệ thống sẽ cập nhật thông tin đầy đủ, chi tiết đến từng giao dịch của khách hàng, thông tin tài chính liên quan cũng như các tiện ích, tính năng đa đạng.
Thông qua Internet Banking, khách hàng có thể thực hiện thanh toán với cho các giao dịch mua bán trực tuyến. Vì chỉ cần máy tính có kết nối với hệ thống internet, khách hàng đã có thể sử dụng dịch vụ nên đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng được hệ thống bảo mật an toàn để chống lại những rủi ro mang tính toàn cầu và đầu tư kinh phí lớn. ❖ Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Phone-banking): là dịch vụ tự động trả lời hoạt động 24/24 thông qua số điện thoại tổng đài của Trung tâm chăm sóc khách hàng. Khách hàng chỉ cần bấm số tổng đài và thực hiện ấn phím điện thoại theo mã do ngân hàng cung cấp, để yêu cầu thực hiện các thông tin, giao dịch cần thiết (lúc đó có thể do hệ thống trả lời tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài).
Phone - Banking được cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với khách hàng thông qua tổng đài dịch vụ. Quy trình sử dụng dịch vụ Phone-banking có thể tóm lược như sau: > Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ: 8 Ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin để định danh được khách hàng và tiến hành ký hợp đồng sử dụng dịch vụ Phone-banking. Sau khi hoàn tất thủ tục, Ngân hàng sẽ cung cấp mã truy cập và mật khẩu Phone-banking (sẽ được gửi qua email đăng ký) - là 02 thông tin định danh khách hàng truy cập. Ngoài ra, khách hàng còn được cung cấp một Mã xác nhận (thông qua số điện thoại đăng ký) để đảm bảo tính bảo mật, an toàn cũng như thuận tiện cho giao dịch.
Để đăng ký sử dụng dịch vụ Phone-banking, khách hàng có thể thực hiện đăng ký tại quầy hoặc thông qua kênh Internet Banking. > Thực hiện giao dịch: Khi khách hàng thực hiện cuộc gọi đến tổng đài, hệ thống sẽ yêu cầu khách hàng nhập mã truy cập và password đăng nhập dịch vụ. Khách hàng thực hiện theo hướng dẫn trên điện thoại để bấm phím chức năng tương ứng với loại dịch vụ mình cần giao dịch. Khách hàng có thể thay đổi, chỉnh sửa trước khi xác nhận giao dịch với Ngân hàng, chứng từ giao dịch sẽ được in ra và gửi tới khách hàng khi giao dịch được xử lý xong.
Do là hệ thống trả lời tự động nên các loại thông tin được ấn định trước, bao gồm thông tin về tỷ giá, lãi suất, giá chứng khoán, biểu phí dịch vu, mạng lưới, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch gần nhất, tổng số dư nợ, tổng số tiền gửi,. Hệ thống cũng tự động gửi fax/email khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. ❖ Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobilebanking) Mobilebanking là một loại hình dịch vụ của NHĐT áp dụng cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, cho phép khách hàng nắm bắt thông tin về tài khoản, tài chính cũng như thực hiện các giao dịch tài chính với thao tác đơn giản, nhanh gọn trên điện thoại di động. Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng cần đăng ký tham gia với Ngân hàng, theo đó khách hàng phải cung cấp các thông tin cá nhân cần thiết như: số điện thoại di động, số tài khoản thanh toán.
Khi đó, khách hàng sẽ được Ngân hàng cung cấp mã số định danh (ID). Cùng với mã số định danh, khách hàng còn được cấp một mật khẩu đăng nhập để khách hàng truy cập vào hệ thống của Ngân hàng Với loại dịch vụ này, điện thoại di động của khách hàng phải được kết 9 nối internet và cài đặt phần mềm ứng dụng do Ngân hàng cung cấp vào điện thoại. Dịch vụ Mobile banking cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản như tra cứu thông tin giao dịch, chuyển tiền, thanh toán, gửi tiết kiệm online. ❖ Thẻ thanh toán: “là một phương tiện thanh toán hiện đại mà chủ sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc tại các quầy giao dịch của ngân hàng phát hành thẻ, đồng thời có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ trong phạm vi tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp”.
Thẻ có hai loại chính là thẻ tín dụng (Credit) và thẻ ghi nợ (Debit). > Thẻ Credit (thẻ tín dụng) là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp. Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín. Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng.
Thay vào đó, Ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và Chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch. Thẻ tín dụng cho phép khách hàng “trả dần” số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng.