MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đối với bất kỳ một tổ chức kinh tế xã hội, một nền kinh tế hay quốc gia nào, nguồn nhân lực luôn đƣợc xem là nguồn lực quan trọng hàng đầu. Để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển của mình, yêu cầu các tổ chức phải xây dựng và thực hiện tốt nhất có thể các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đầy đủ về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng đề ra. Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC là một trong những thành viên năng động và quan trọng nhất của Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC), trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN).
Công ty chuyên cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí cho các công trình dầu khí trên bờ và ngoài khơi, từ khi thành lập năm 2001 đến nay đã thực hiện thành công gần 60 các dự án với vai trò là tổng thầu EPCI cho nhiều khách hàng lớn trong và ngoài nƣớc. Cùng với hàng loạt các giải pháp khác để hoàn thiện và nâng cao năng lực tổng thầu các dự án, thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, Công ty luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm và hàng đầu của mình là duy trì và không ngừng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đề ra cả về số lƣợng và chất lƣợng. Do ảnh hƣởng của tình hình kinh tế chính trị toàn cầu, giá dầu trên thế giới trong giai đoạn 2015 - 2017 giảm sâu. Hàng loạt các dự án cơ khí dầu khí của các chủ đầu tƣ cả trong nƣớc và quốc tế đều giãn tiến độ hoặc dừng triển khai.
Phần lớn các nhà thầu dầu khí đều hoạt động cầm chừng, thậm chí chấp nhận lỗ với mục tiêu duy nhất là nhận việc về để làm. Với đặc thù là doanh nghiệp thực hiện vai trò tổng thầu EPCI các dự án cơ khí dầu khí, ngoài lực lƣợng nòng cốt bắt buộc phải duy trì, rất nhiều ngƣời lao động buộc phải nghỉ chờ việc, phải chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xin chấm dứt trƣớc thời hạn hợp đồng lao động với Công ty để tìm kiếm cơ hội việc làm khác, ngành nghề khác hoặc thậm chí tự thành lập doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, kể từ cuối 2017 và đầu 2018, giá dầu có xu hƣớng tăng lên, thị trƣờng khởi sắc, nhiều dự án đƣợc tiếp tục phát triển, triển khai thực hiện. Thực tế là trong giai đoạn này, Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC đã trúng thầu 02 dự án trong nƣớc và 02 dự án quốc tế với rất nhiều các yêu cầu rất cao về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng nguồn nhân lực.
Các đơn vị/đối thủ khác trong ngành cũng tìm kiếm đƣợc nhiều dự án/phần việc mới cả trong ngành dầu khí và ngành nghề kinh tế khác. Nhu cầu về nguồn nhân lực lúc này lại trở nên cấp thiết, đặc biệt là các vị trí có chất lƣợng cao là vô cùng khan hiếm, dẫn đến cạnh tranh vô cùng gay gắt giữa các đơn vị. Nhiều đơn vị tìm mọi cách để tuyển dụng nguồn nhân lực, thậm chí lôi kéo nguồn lực của nhau. Đặc thù của Công ty là làm nhiều dự án cùng lúc, do đó một nhân sự trong một thời điểm cũng đảm nhiệm đồng thời nhiều vị trí ở nhiều dự án khác nhau.
Thực tế là Công ty phải vừa giữ đƣợc, vừa tuyển dụng đầy đủ số lƣợng và đảm bảo chất lƣợng, vừa sử dụng một cách hiệu quả và hợp lý nhất nguồn nhân lực thực hiện các dự án của Công ty đến Luan van 2 năm 2025, yêu cầu phải hoàn thiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trở nên rất bức thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, với trách nhiệm và tình cảm của một ngƣời đang giữ vai trò quản lý mảng hành chính nhân sự, cũng nhƣ để góp phần nhỏ của mình, tôi chọn đề tài "Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC đến năm 2025" làm Luận văn Thạc sĩ của mình. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận về xây dựng chiến lƣợc và các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, Luận văn tập trung phân tích, nêu lên thực trạng nguồn nhân lực, các chế độ chính sách đối với nguồn nhân lực, những kết quả đạt đƣợc, những tồn tại cần khắc phục trong quản lý, phát triển nguồn nhân lực của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC, xác định các luận cứ nhằm xây dựng một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực, thực hiện các kế hoạch, mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC đến năm 2025. Đối tƣợng nghiên cứu Nghiên cứu về nguồn nhân lực của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC, bao gồm cả nguồn nhân lực gián tiếp và nguồn nhân lực trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, bao gồm các nội dung: - Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC.
- Những kết quả đạt đƣợc và những tồn tại, hạn chế của công tác phát triển nguồn nhân lực cần xử lý. - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC đến năm 2025. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Các vấn đề liên quan đến tình trạng nguồn nhân lực và hoàn thiện giải pháp phát triển nhằm đảm bảo nhân lực thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC. - Về thời gian: Định hƣớng đến năm 2025.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu, tham vấn ý kiến chuyên gia, phỏng vấn trực tiếp, khảo sát định tính đối với các cán bộ quản lý một số bộ phận liên quan, nhân sự chuyên trách quản lý nhân sự nhƣ trình bày tại Phụ lục 02. Tài liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu liên quan đến cơ sở lý luận về quản trị nhân sự, các công trình nghiên cứu đến chủ đề liên quan. Ngoài ra còn có các báo cáo, số liệu về tình hình hoạt động và thực trạng nhân sự tại Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải Luan van 3 PTSC từ các phòng, ban. Tham vấn ý kiến chuyên gia đƣợc sử dụng trong thời gian xây dựng câu hỏi phỏng vấn khảo sát định tính và lên bảng hỏi cơ bản cho phần khảo sát định lƣợng nhân viên.
Tác giả còn sử dụng phƣơng pháp khảo sát bằng Bảng câu hỏi khảo sát từ tháng 3 đến tháng 5/2019 tới 220 nhân sự đại diện tại một số bộ phận chức năng nhƣ trình bày tại Phụ lục 03 để tìm hiểu các đánh giá và đề xuất của các nhân sự đƣợc khảo sát về tình trạng phát triển nguồn nhân lực của Công ty đến năm 2025. Bảng câu hỏi khảo sát gồm 2 phần chính: (i) Đánh giá của ngƣời trả lời về môi trƣờng kinh tế văn hóa xã hội; chính sách hỗ trợ của nhà nƣớc; công tác quản trị nhân sự và kết quả của quản trị nhân sự với ngƣời lao động. Đánh giá đƣợc thể hiện qua các nhận định đo bằng thang đo Likert 5 mức độ, mức độ đồng ý tăng dần theo số điểm đánh giá (kém nhất tƣơng ứng với 1 và tốt nhất tƣơng ứng với 5). (ii) Các thông tin về đặc điểm của mẫu khảo sát, so sánh với đặc điểm chung của công ty nhằm khẳng định mẫu đủ tính đại diện.
Khảo sát đƣợc thực hiện bằng bảng hỏi trực tiếp phát đến cán bộ công nhân viên, kết quả đƣợc tổng hợp và phân tích trong Excel. Đóng góp thực tiễn của đề tài Trên cơ sở hệ thống lý luận cơ bản về quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC, nêu những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ tồn tại và nguyên nhân của nó, đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết. Kết quả cuối cùng mà Luận văn hƣớng tới là đƣa ra một số giải pháp, biện pháp phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện thành công các nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC đến năm 2025. Luan van 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Sự cần thiết phải quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng Nhƣ chúng ta biết, một trong số các hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của con ngƣời là hoạt động kinh tế. Loài ngƣời đã sáng lập ra nền kinh tế, sáng tạo ra thị trƣờng. Nền kinh tế là một phƣơng thức (thể chế, cơ chế định hƣớng, điều khiển và cách thức) tiến hành các hoạt động kinh tế.
Thị trƣờng là nơi gặp gỡ và diễn ra quan hệ mua bán (trao đổi) giữa ngƣời có và ngƣời cần hàng hoá. Nền kinh tế thị trƣờng là nền kinh tế hoạt động chủ yếu theo quy luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hàng hoá. Trong nền kinh tế thị trƣờng có nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp đƣợc coi là một tế bào, đơn vị cơ sở thu hút các nguồn lực của xã hội (sức lao động, vốn, vật tƣ, máy móc, thiết bị…) để sáng tạo ra, cung ứng hàng hoá, dịch vụ trên thị trƣờng và cho xã hội. Theo Luật Doanh nghiệp đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua tại văn bản số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thì “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi”; “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Về mặt xã hội, doanh nghiệp là một đơn vị xã hội, gồm nhiều cá nhân đƣợc tổ chức một cách có ý thức, có chức năng theo đuổi các mục đích và mục tiêu chung thông qua các hoạt động phối hợp các nguồn lực, mà trong đó yếu tố con ngƣời có tính chất quyết định nhất. Mọi doanh nghiệp đều có 3 mục đích cơ bản sau đây: - Mục đích về xã hội: Doanh nghiệp trƣớc hết phải trở thành một đơn vị cung cấp của cải vật chất, dịch vụ cho xã hội, góp phần vào sự phát triển lâu dài của xã hội.