CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ 1. TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS 1. Khái niệm logistics Theo Uỷ hội Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (ESCAP) (Châu, Thủy, Tân, & Đạt, 2021), “logistics có thể được đinh nghĩa là việc quản lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phầm và xử lý các thông tin liên quan,… từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và xử lý rác thải”.
Khái niệm này đưa ra sự rõ ràng giữa đầu vào, đầu ra và logistics ngược, thể hiện sự chuyên môn hóa ngày càng được mở rộng. Ngoài ra, ESCAP còn nhấn mạnh việc quản lý tất cả các hoạt động trong logistics. Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC - The US. Logistics Administration Council) (Vân Đ., 2010) có quan điểm: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quá trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng”.
Các hoạt động chủ yếu của logistics được đề cấp tương đối đầy đủ, đó là một quá trình từ lập kế hoạch, thực hiện đến kiểm soát, lưu kho bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin từ mua sắm nguyên vật liệu đến khi chuyển đến tay người tiêu dùng. Hơn nữa, quan điểm này còn đặc biệt nhấn mạnh mục đích chính của logistics trong thương mại là thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng. Trong khi đó, Liên Hợp Quốc (Vân Đ., 2010) có nhận định về logistics như sau: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”. Nhận định nhấn mạnh hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển của nguyên vật liệu qua từng khâu cũng như việc thực hiện theo yêu cầu của khách hàng.
Tại Việt Nam, Luật Thương Mại 2005 không đưa ra khái niệm về logistics mà đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics theo Điều 233 như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức một hoặc nhiều công đoạn bao gồm 9 nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Khác với ESCAP là đề cập đến việc quản lý tất cả các hoạt động, thì theo bộ luật trên, logistics chỉ dừng lại ở việc thực hiện các hoạt động riêng lẻ. Mặc dù có nhiều quan điểm về khái niệm logistics, tuy nhiên, một cách hiểu bao quát nhất về logistics là sự vận động của nguyên vật liệu, hàng hóa từ khâu mua sắm nguyên vật liệu đầu vào, trải qua các khâu lưu kho, sản xuất ra thành phẩm và phân phối đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Nhằm mục đích chung là đáp ứng yêu cầu khách hàng trong thời gian hợp lý và chi phí tối ưu nhất.
Đặc điểm logistics Tại giáo trình logistics và vận tải quốc tế (Trường đại học Ngoại thương, 2009), GS.TS Hoàng Văn Châu đã đưa ra một số đặc điểm của logistics như sau: Logistics là một quá trình. Điều này có nghĩa là logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Do đó, logistics xuyên suốt mọi giai đoạn, từ giai đoạn đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phầm cuối cùng. Logistics liên quan đến tất cả các nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
Các nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực, mà còn bao gồm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ,… Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch đinh và tổ chức. Ở cấp độ thứ nhất, vấn đề đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hay dịch vụ,… ở đâu? vào khi nào? và vận chuyển chúng đi đâu? Do vậy tại đây xuất hiện vấn đề vị trí. Cấp độ thứ hai quan tâm đến việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng. Phân loại logistics Trên thực tế có nhiều cách để có thể phân loại logistics.
Tuy nhiên, khóa luận này sẽ đề cập tới hai cách phân loại logistics theo các căn cứ chủ yếu như sau: 10 1. Căn cứ vào hình thức logistics - Logistics bên thứ nhất – First Party Logistics (1PL) Phân loại đầu tiên này còn có tên gọi khác là logistics tự cấp, hay được hiểu như là một doanh nghiệp, một cá nhân sở hữu hàng hóa, tự mình thực hiện các công việc của hoạt động logistics như phương tiện vận tải để vận chuyển, các thiết bị xếp dỡ, nhà kho và các nguồn lực lao động, qua đó nhằm tiết kiệm chi phí và tăng doanh thu. Tuy nhiên, logistics bên thứ nhất hầu như khiến cho hoạt động vận hành của doanh nghiệp trở nên cồng kềnh hơn do bản thân doanh nghiệp cùng lúc phải thực hiện các công việc từ thu mua nguyên vật liệu thô, lưu kho, sản xuất, vận chuyển phân phối thành phẩm đến khách hàng trong và ngoài nước. Điều này làm phân tán nguồn lực, giảm hiệu quả và năng suất lao động.
- Logistics bên thứ hai – Second Party Logistics (2PL) Là hoạt động mà doanh nghiệp thuê ngoài một bên thứ hai thực hiện một khâu trong chuỗi các hoạt động logistics. Với trường hợp này, bên thứ hai thường là các nhà vận chuyển như hãng hàng không, hãng tàu, hãng xe,… sở hữu các phương tiện đặc thù để phục vụ cho việc vận chuyển hay cung cấp các dịch vụ vận chuyển đơn lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics, nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Do đó, nhà cung cấp dịch vụ 2PL có vai trò là mắt xích, cầu nối cho các hoạt động còn lại trong chuỗi các hoạt động logistics của doanh nghiệp. - Logistics bên thứ ba – Third Party Logistics (3PL) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba được chủ hàng giao phó cho việc quản lý và thực hiện các hoạt động logistics trong một dây chuyền các hoạt động logistics như thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu thay mặt cho người gửi hàng, cung cấp chứng từ giao nhận – vận tải và vận chuyển hàng hóa, hay thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và đưa hàng hóa đến nơi quy định,… Chia sẻ công việc cho bên 3PL giúp doanh nghiệp tập trung chuyên môn hóa do giảm bớt gánh nặng về chi phí, thời gian và nguồn lực cho các công việc không có kinh nghiệm và chuyên môn.
Sự xuất hiện của dịch vụ 3PL giúp doanh nghiệp giải quyết kịp thời các khó khăn, mang lại sự thuận tiện khi doanh nghiệp có thể thuê khi cần thiết hoặc ký hợp đồng dài hạn tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 3PL thường có đa dạng phương thức vận chuyển như đường biển, đường hàng không, đường 11 bộ hoặc nếu không sẽ có quan hệ với các đối tác lớn trong ngành khác, mang lại giá trị cho doanh nghiệp lớn hơn nhiều so với biện pháp 1PL và 2PL. - Logistics bên thứ tư – Fourth Party Logistics (4PL) Hoạt động như một bên tích hợp logistics, 4PL chịu trách nhiệm quản lý, giám sát, vận hành các hoạt động logistics để thỏa mãn nhu cầu nhất định của khách hàng. 4PL gần như được coi là đơn vị chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do nó hướng đến việc quản trị cả quá trình sản xuất như nhận hàng, làm thủ tục hải quan, lưu kho, phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng.
Mô hình 4PL không chỉ kết nối các dịch vụ hậu cần của khách hàng với nhau một cách hệ thống mà còn tích hợp các dịch vụ đó với các nhiệm vụ khác như tiếp thị mua hàng, thanh toán, công nghệ thông tin. Trong khi 3PL chỉ cung ứng một số quy trình trong toàn bộ quy trình của chuỗi cung ứng thì 4PL thực hiện tất cả các công đoạn từ đầu vào đến đầu ra. Hơn nữa, 4PL có nhiệm vụ kết nối giữa khách hàng và công ty 3PL, sử dụng nguồn lực sẵn có của mình kết hợp với dịch vụ của các 3PL để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, bởi nó hoạt động với mục đích tìm kiếm các biện pháp tổ chức chuỗi cung ứng một cách hiệu quả nhất cho khách hàng. - Logistics bên thứ năm – Fifth Party Logistics (5PL) Sự phát triển của công nghệ và thương mại điện tử chính là tác nhân tác động trực tiếp tới sự phổ biến của 5PL.
Dịch vụ này giúp quản lý, điều phối hoạt động của các 3PL và 4PL trên nền tảng của thương mại điện tử, với đặc trưng là các hệ thống như: hệ thống quản lý đơn hàng, hệ thống quản lý kho hàng và hệ thống quản lý vận tải. Từ đó, giúp khách hàng tận dụng tối ưu công nghệ để đạt hiệu quả cao trong chuỗi cung ứng. Căn cứ vào quá trình vận hành - Logistics đầu vào – Inbound Logistics Là các hoạt động đầu tiên khởi nguồn cho cả một chuỗi các hoạt động logistics sau đó, là quá trình đảm bảo cho các sản phẩm, nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách liên tục, không ngắt quãng. Do đó, logistics đầu vào được xem là quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cả chuỗi hoạt động logistics phía sau.
Logistics đầu vào bao gồm các hoạt động: tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào, thu mua nguồn nguyên vật liệu thô, bảo quản hàng hóa trong kho, quản lý hàng tồn 12 kho, vận chuyển nguyên liệu thô đến nơi sản xuất. Hay còn được hiểu là các công đoạn của chuỗi cung ứng dẫn đến việc tạo nguyên liệu thô thành thành phẩm.