CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH ĐIỆN TỬ 1. Một số lý thuyết về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ Cho đến nay, thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, và đặc biệt, được phổ biến hơn cả tại các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước ASEAN,… Tuy nhiên, phạm vi của CNHT vẫn còn khá mở và chưa có một định nghĩa thống nhất.
Khái niệm về CNHT đang được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo nghĩa rộng, Công nghiệp hỗ trợ bao gồm toàn bộ các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho sản xuất công nghiệp nói chung. Theo nghĩa này, công nghiệp hỗ trợ sẽ bao gồm cả sản xuất nguyên liệu thô, các linh kiện, phụ tùng và các dịch vụ liên quan,… phục vụ cho quá trình sản xuất các hàng hóa trung gian và hàng hóa cuối cùng. Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hỗ trợ gắn với chức năng cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và công cụ cho một số ngành công nghiệp nhất định.
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận định nghĩa CNHT khác nhau, tùy vào phạm vi, mục đích nghiên cứu của từng đề tài. Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả tiếp cận CNHT theo nghĩa tương đối hẹp, theo đó, tác giả xin đưa ra định nghĩa về CNHT như sau: "Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất các nguyên vật liệu cơ bản, các linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp lắp ráp như ngành ô tô, xe máy, điện, điện tử,. Trong đó, sản phẩm CNHT các ngành lắp ráp bao gồm các nguyên vật liệu cơ bản như nhựa, cao su, kim loại; các linh kiện phụ tùng bao gồm: linh kiện nhựa – cao su, linh kiện kim loại, linh kiện điện (như pin, ắc quy, dây dẫn), linh kiện điện tử;. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử Ngành điện tử sản xuất thiết bị điện tử cho các ngành công nghiệp và các sản phẩm điện tử tiêu dùng, như máy tính, ti vi và bảng mạch điện.
Các ngành công nghiệp điện tử bao gồm viễn thông, thiết bị, linh kiện điện tử, điện tử công nghiệp và điện tử tiêu dùng. Các công ty điện tử sản xuất thiết bị điện, sản xuất linh kiện điện và bán các sản phẩm này để cung cấp cho người tiêu dùng. Hoạt động công nghiệp điện tử bao gồm các loại hình thiết kế, chế tạo sản phẩm phần cứng; lắp ráp, gia công sản phẩm phần cứng; cung cấp dịch vụ công nghiệp phần cứng. Sản phẩm phần cứng bao gồm: Máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi; Điện tử nghe nhìn; Điện tử gia dụng; Điện tử chuyên dùng; Thông tin - viễn thông, thiết bị đa phương tiện; Phụ tùng, linh kiện điện tử; Các sản phẩm phần cứng khác.
Theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại thương (SITC Revision 3), ở phân cấp 3, các sản phẩm điện tử được chia thành 7 nhóm: Máy văn phòng (751); Máy tính và thiết bị (752); Linh kiện/ phụ tùng của máy văn phòng (759); Tivi (761); Máy thu, phát thanh (762); Thiết bị ghi và tái tạo âm thanh (763); Thiết bị liên lạc viễn thông và phụ tùng (754). Từ khái niệm chung về CNHT và khái niệm về CN điện tử, có thể đưa ra định nghĩa về CNHT ngành điện tử là các ngành công nghiệp sản xuất các nguyên vật liệu cơ bản, các linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp lắp ráp điện tử,. Trong đó, sản phẩm CNHT ngành điện tử bao gồm các nguyên vật liệu cơ bản như nhựa, cao su, kim loại; các linh kiện phụ tùng bao gồm: linh kiện nhựa – cao su, linh kiện kim loại, linh kiện điện (như pin, ắc quy, dây dẫn), linh kiện điện tử; bao bì. Từ đó, có thể mô tả phạm vi CNHT ngành điện tử như sau: 12 Hình 1.
Phạm vi CNHT ngành điện tử (Nguồn: Vũ Thị Thanh Huyền (2019)) 1. Khái niệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ Theo GT Kinh tế phát triển (Đại học Kinh tế quốc dân, 2012) [tr. 28-41], Phát triển nền kinh tế là quá trình tăng tiến, toàn diện và về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Hay có thể hiểu phát triển kinh tế là một quá trình lớn lên (hay biến đổi) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, bao gồm sự tăng lên về quy mô sản lượng (tăng trưởng), sự thay đổi về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ xã hội.
Từ đó, khi xem xét CNHT với tư cách là một ngành sản xuất trong nền kinh tế, có thể hiểu Phát triển công nghiệp hỗ trợ là sự tăng lên quy mô sản lượng; kèm theo sự thay đổi cơ cấu ngành và sự tiến bộ về năng lực của các doanh nghiệp sản xuất CNHT, được thể hiện thông qua một số nội dung như: - Năng lực sản xuất thể hiện qua quy mô vốn, trình độ công nghệ và trình độ nguồn nhân lực. 13 - Năng lực tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu thể hiện thông qua mức độ gắn kết với các nhà cung cấp, khách hàng; cùng với sự tương quan giữa các nguồn cung cấp và tiêu thụ sản phẩm. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Châu (2010) [, tr. 26-31], ngành CNHT nói chung có 4 đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, tính đa cấp của CNHT.
Các DN tham gia CNHT nằm ở các vị trí khác nhau trong chuỗi giá trị sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Mỗi sản phẩm bất kỳ đều trải qua một quá trình sản xuất, bắt đầu từ nguyên liệu thô, qua các giai đoạn khác nhau cho tới khi giá trị được tích lũy vào thành phẩm cuối cùng. Trong chuỗi sản xuất này, các nhà cung cấp được phân loại theo cấp độ, vị trí họ tham gia vào hệ thống. Ngoài ra, tính đa cấp trong sản xuất CNHT còn thể hiện ở chỗ, các nhà cung cấp sản phẩm CNHT có thể rất khác nhau về quy mô vốn, quy mô sản xuất, sở hữu, công nghệ,.
Thứ hai, tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính. Do cùng nằm trong chuỗi giá trị của sản xuất, các doanh nghiệp CNHT có mối quan hệ liên kết chặt chẽ với nhau. Từ mối quan hệ này cũng dẫn đến yêu cầu cần phát triển CNHT một cách có hệ thống và tập trung theo các cụm, khu công nghiệp. Sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp sẽ tạo nhu cầu và kích thích sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hỗ trợ, ngược lại, sự phát triển của các doanh nghiệp CNHT sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, đem lại lợi thế cạnh tranh để thu hút, giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp lắp ráp.
Thứ ba, tính đa dạng về công nghệ và trình độ sản xuất. Sự đa dạng về công nghệ trong sản xuất CNHT xuất phát từ việc có nhiều loại linh kiện, phụ tùng được cung ứng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng; có những sản phẩm linh kiện đòi hỏi sản xuất với trình độ công nghệ cao như những bộ phận điều khiển, điện tử, .; ngược lại, có những chi tiết không đòi hỏi kỹ thuật quá khó như các linh kiện cao su, nhựa,. 14 Thứ tư, thu hút một số lượng lớn DN, nhất là các DNVVN. Do đặc tính đa cấp, đa dạng về công nghệ; do sự tham gia vào nhiều công đoạn của sản xuất nên ngành CNHT thu hút một số lượng lớn các DN, với các quy mô, trình độ đa dạng, trong đó, số lượng DN ở cấp thấp rất lớn.
Đa phần các DN ở cấp này là các DNVVN. Bên cạnh đó, xuất phát từ đặc điểm của ngành công nghiệp điện tử, ngoài các đặc điểm chung của ngành CNHT, ngành sản xuất CNHT ngành điện tử có thêm một số đặc điểm như sau: Một là, chu kỳ sản phẩm điện tử ngắn, đặc biệt là lĩnh vực điện tử gia dụng, điện tử nghe nhìn,.có xu hướng mang tính thời trang và khả năng thay thế theo chu kỳ khá cao, dẫn đến nhu cầu các sản phẩm CNHT ngành điện tử thay đổi nhanh chóng. Điều này đòi hỏi các DN cung ứng sản phẩm CNHT cần có sự linh hoạt, thích ứng nhanh chóng với các yêu cầu thay đổi, dẫn đến khó khăn trong quá trình sản xuất và cung cấp sản phẩm của các DN CNHT, đặc biệt là các sản phẩm có yêu cầu quy trình sản xuất phức tạp, trình độ công nghệ cao như các loại linh kiện điện, điện tử. Hai là, ngành sản xuất CNHT ngành điện tử phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử.
Các sản phẩm điện tử được cấu thành bởi các linh kiện nhựa và kim khí được thiết kế hết sức tinh vi, đòi hỏi độ chính xác cao, bởi vì một khiếm khuyết nhỏ trong các linh kiện có thể ảnh hưởng đến toàn bộ tính năng của sản phẩm cuối cùng. Do đó, một mặt, sản xuất CNHT ngành điện tử đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến vào sản xuất; mặt khác, đây cũng là lĩnh vực yêu cầu tay nghề sản xuất, bảo trì và sửa chữa các công cụ (như đúc, nén.) ở mức cao, để giảm chi phí và rút ngắn thời gian thực hiện đơn hàng. Ba là, trong sản xuất linh kiện, phụ tùng CNHT ngành điện tử, sản phẩm linh kiện có thể chia thành 2 nhóm chính: (i) Các linh kiện nhỏ, hao tốn ít nguyên vật liệu, tích hợp công nghệ cao, hầu hết được vận chuyển từ địa điểm sản xuất đến các nhà máy lắp ráp trên toàn thế giới như: bản mạch, các thiết bị bán dẫn, các chip điện tử, bo mạch,. 15 (ii) Các linh kiện chi tiết máy móc lớn, hao tốn nhiều nguyên vật liệu, lưu kho, công nghệ kỹ thuật đơn giản hơn, thường được thực hiện sản xuất hoặc thuê sản xuất ngay tại quốc gia có nhà máy lắp ráp, hoặc ngay tại quốc gia có thị trường tiêu thụ như: vỏ máy giặt, vỏ TV, các chi tiết nhựa trong TV, các ngăn nhựa trong tủ lạnh, bao bì carton, xốp.
Vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử CNHT, về bản chất, là một bộ phận của ngành CN CBCT.