Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều.Tổng diện tích đất tự nhiên là 330. Với điều kiện khí hậu thuận lợi làm cho thảm thực vật rừng ở Việt Nam vô cùng phong phú về chủng loại và đa dạng sinh học cao, đặc biệt đối với cây trồng, vật nuôi có điều kiện để sinh trưởng và phát triển tốt. Đây có thể coi là một tiềm năng lớn cho phát triển nông – lâm nghiệp ở nước ta. Bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có nhiều khó khăn như: Tài nguyên bị suy thoái, thiên tai, dịch bệnh phát sinh nhanh, trình độ khoa học kỹ thuật của người lao động còn thấp, chủ yếu là lao động thủ công, đặc biệt là người dân miền núi, trung du, dẫn đến khả năng sử dụng đất chưa hợp lý, nhất là canh tác trên đất dốc.
Nhiều nơi người dân vẫn còn chủ yếu sản xuất theo phương thức du canh, du cư hay canh tác độc canh làm cho nhiều nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nghiêm trọng, dẫn đến các hiện tượng xói mòn, rửa trôi… Nhiều diện tích đất lâm nhiệp và đất sản xuất nông nghiệp bị thoái hóa, giảm độ phì dẫn đến năng suất cây trồng ngày càng suy giảm. Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, nhà nước đã hoàn thành công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn nông thôn miền núi và đưa ra được một số chủ trương chính sách như : chính sách giao đất giao rừng, đầu tư vốn, kỹ thuật giúp phát triển nông – lâm nghiệp thông qua các chương trình dự án của nhà nước. Để sử dụng tài nguyên đất đai, khí hậu và phát huy vai trò của các cây trồng, vật nuôi ngày càng một hiệu quả cao thì có nhiều giải pháp và thách n 2 thức, trong đó phải kể đến các dạng mô hình sản xuất nông – lâm nghiệp. Một trong những dạng mô hình sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tận dụng đất đai, góp phần sử dụng đất bền vững phổ biến hiện nay là thiết kế và xây dựng mô hình nông lâm kết hợp (NLKH).
Đây là phương thức sử dụng đất tổng hợp giữa lâm nghiệp với ngành nông nghiệp (gồm: trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản). Phương thức sản xuất này có nhiều ưu điểm đảm bảo việc sử dụng đất một cách tốt nhất đem lại nguồn thu nhập cho người dân, đảm bảo tính an toàn về môi trường được người dân các vùng chấp nhận. Tuy nhiên, vẫn phải có đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả của mô hình NLKH để có cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển NLKH bền vững. Dân Tiến là một xã vùng cao, nằm ở phía đông nam của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Trong nhiều năm trở lại đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và sự cố gắng của người dân, đã đưa ra và áp dụng các hệ thống NLKH trên diện tích đất của xã. Bước đầu hệ thống NLKH đã có thu nhập, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phải xem xét, cần có hướng phát triển để tạo ra được hệ thống sản xuất có hiệu quả cao và bền vững về cả 3 mặt : kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Để giúp người dân tại xã có những giải pháp để thiết kế xây dựng các hệ thống NLKH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất góp phần nâng cao đời sống cho người dân tại địa phương là việc làm cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển mô hình NLKH tại xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.
Để từ đó nhằm đánh giá được hiệu quả các mô hình và nhân rộng, đề xuất các giải pháp phát triển mô hình NLKH trong toàn xã, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tại địa phương. Mục đích nghiên cứu Đề tài xây dựng nhằm đề xuất giải pháp để phát triển các mô hình NLKH từ đó nâng cao thu nhập, ổn định đời sống góp phần bảo vệ môi trường cho người dân tại xã Dân Tiến.3 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được hiện trạng phát triển mô hình NLKH tại xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá được tiềm năng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển NLKH trên địa bàn xã - Đề xuất các giải pháp phát triển mô hình NLKH nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững và nhân rộng mô hình NLKH.4 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở để củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp phát triển NLKH để phát huy tiềm năng, hạn chế và đáp ứng được mong muốn của người dân, từ đó góp phần cho các cấp chính quyền trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển những hệ thống NLKH có hiệu quả cao nói riêng và phát triển khinh tế xã hội chung của địa phương. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập niên 60 bởi King (1979).
Qua nhiều năm, nhiều khái niệm được phát triển để diễn tả hiểu rõ hơn về nông lâm kết hợp. Sau đây là một khái niệm khác nhau được phát triển cho đến hiện nay : Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai bền vững làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các biện pháp kĩ thuật tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương [11]. Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kĩ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn (Nair, 1987)[16]. Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm rùng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư địa phương[11].
Nông lâm kết hợp là tên chung của hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp…) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu và/ hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian. n 5 Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động tương hỗ qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng (Lundgren và Raintree,1983)[9]. Những khái niệm trên mô tả đơn giản hệ thống NLKH như một loạt các hướng dẫn cho hoạt động sử dụng đất liên tục. Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên một cách bền vững.
Trong các văn bản của ICRAF định nghĩa về NLKH như sau: “NLKH bao gồm các hệ thống canh tác sử dụng đất khác nhau trong đó loài cây thân gỗ lâu năm (bao gồm cả các cây bụi thân gỗ, các loài cây họ dừa và họ tre nứa) được trồng với cây nông nghiệp hoặc vật nuôi cùng đơn vị diện tích đất canh tác đã được quy hoạch sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp,chăn nuôi thủy sản. Chúng được kết hợp với nhau đồng thời hay kế tiếp nhau về mặt không gian và thời gian. Mặt khác có loại hệ thống NLKH cả hai yếu tố sinh học và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau với các bộ phận hợp thành hệ thống đó”[11].2 Đặc điểm của mô hình NLKH 2.1 Đặc điểm NLKH 2.1 Theo ICRAF Với định nghĩa trên, một hệ canh tác sử dụng đất được gọi là NLKH khi nó có các đặc điểm sau: - Có ít nhất hai loại thực vật (hay thực vật và động vật), trong đó phải có ít nhất một loại cây gỗ lâu năm. - Một hệ thống NLKH có ít nhất hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra.
- Chu kỳ sản xuất hệ thống NLKH thường dài hơn một năm. - Đa dạng về phương diện kinh tế và sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc và chức năng sinh thái học) so với canh tác độc canh. n 6 - Có mối quan hệ tương hỗ giữa thành phần cây thân gỗ và thành phần khác trong hệ thống.2 Theo Nair - NLKH là khái niệm chung để chỉ các hệ thống sử dụng đất bao gồm việc trồng các cây lâu năm kết hợp với cây hoa màu và gia súc trên cùng đơn vị diên tích. - Phối hợp giữa tự sản xuất các loại sản phẩm với việc bảo tồn nguồn tài nguyên cơ bản của hệ thống.
- Chú trọng sử dụng các loại cây địa phương, bản địa đa tác dụng. - Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hóa và đầu tư thấp. - Quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội. - Cấu trúc và chức năng của hệ thống phong phú, đa dạng hơn so với canh tác độc canh.2 Phân loại hệ thống NLKH Theo Nair (1989), có bốn nguyên tắc đặt cơ sở cho việc phân loại đó là: - Cơ sở cấu trúc: Cấu trúc thành phần và sự phối hợp theo không gian hay thời gian.
- Cơ sở chức năng: Dựa trên vai trò chủ yếu của thành phần cây thân gỗ. - Cơ sở sinh thái: Dựa vào điều kiện sinh thái và sự tương thích sinh thái của hệ thống. - Cơ sở kinh tế, xã hội: Dựa vào mức độ đầu tư trình độ quản lý nông trại, mục đích thương mại.