Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực nông thôn Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng làm suy giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp, dẫn đến tình trạng dôi dư lao động nông nhàn. Việc khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) theo tinh thần Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ là hướng đi chiến lược nhằm giải quyết việc làm tại chỗ và gia tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.

Tại tỉnh Tây Ninh, thống kê năm 2006 ghi nhận 29 điểm làng nghề TTCN, trong đó làng nghề sản xuất gạch ngói thủ công, mây tre và bánh tráng là các nhóm nghề phát triển nổi bật. Tại huyện Hòa Thành, nghề sản xuất gạch thủ công có bề dày lịch sử lâu đời, đóng góp đáng kể vào nguồn thu địa phương và giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi. Tuy nhiên, làng nghề đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng: sự cạn kiệt và khan hiếm nguồn đất sét nguyên liệu, giá nhiên liệu tăng, thiếu vốn đầu tư, quy mô phân tán nhỏ lẻ, công nghệ nung lạc hậu gây ô nhiễm môi trường và áp lực cạnh tranh từ các sản phẩm công nghiệp hiện đại.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Triệu Hoài Phát (Chuyên ngành Phát triển Nông thôn & Khuyến nông, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Giải pháp phát triển làng nghề sản xuất gạch thủ công ở huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh".

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và phát triển làng nghề sản xuất gạch thủ công huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất gạch thủ công.
    2. Tìm hiểu vị trí, vai trò của làng nghề đối với đời sống kinh tế - xã hội của người dân tham gia làng nghề.
    3. Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong việc duy trì, phát triển làng nghề sản xuất gạch thủ công trên địa bàn.
    4. Tìm hiểu những khả năng phát triển của làng nghề trong tương lai về nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.
    5. Đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn để duy trì, củng cố và phát triển làng nghề.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ dân và cơ sở tham gia sản xuất kinh doanh gạch thủ công tại làng nghề.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại 3 xã tập trung nhiều cơ sở sản xuất gạch nhất của huyện Hòa Thành gồm xã Long Thành Trung, xã Long Thành Nam và xã Trường Tây.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập dữ liệu và hoàn thành khóa luận được tiến hành từ ngày 09/07/2007 đến ngày 27/10/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng hệ thống lý luận kinh tế nông thôn, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cùng hệ thống phương pháp nghiên cứu kinh tế - xã hội học:

1. Khung lý thuyết và khái niệm áp dụng

  • Sản phẩm thủ công và làng nghề: Vận dụng các định nghĩa về sản phẩm thủ công truyền thống, khái niệm làng nghề TTCN theo Quyết định 132/2000/QĐ-TTg và Công văn số 757/BNN/CBNLS ngày 20/03/2001 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tiêu chí xác định làng nghề bao gồm: tỷ lệ hộ tham gia hoạt động phi nông nghiệp (từ 20% đến 40% tùy từng giai đoạn điều chỉnh), tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của địa phương.
  • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
    • $\text{Giá trị sản phẩm} = \text{Chi phí vật chất (CPVC)} + \text{Chi phí lao động (CPLĐ)} + \text{Lợi nhuận}$
    • $\text{Thu nhập} = \text{Doanh thu} - \text{CPVC mua ngoài} - \text{CPLĐ thuê}$
    • $\text{Lợi nhuận} = \text{Thu nhập} - \text{CPVC tự có} - \text{CPLĐ gia đình}$
    • Các tỷ suất hiệu quả: Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí sản xuất ($\text{TSLN} = \frac{\text{Lợi nhuận}}{\text{Tổng CPSX}}$), Tỷ suất thu nhập trên chi phí sản xuất ($\text{TSTN} = \frac{\text{Thu nhập}}{\text{Tổng CPSX}}$), Tỷ suất doanh thu trên chi phí sản xuất ($\text{TSDT} = \frac{\text{Doanh thu}}{\text{CPSX}}$), Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí lao động ($\text{TSLN/CPLĐ} = \frac{\text{Lợi nhuận}}{\text{CPLĐ}}$).

2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê định kỳ, số liệu kinh tế - xã hội năm 2006 từ Phòng Thống kê huyện Hòa Thành, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tây Ninh.
  • Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên và phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc đối với 45 hộ/cơ sở sản xuất gạch thủ công tại 3 xã (Long Thành Trung, Long Thành Nam, Trường Tây).
  • Phương pháp xử lý và phân tích:
    • Xử lý số liệu khảo sát bằng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp bảng biểu thống kê mô tả.
    • Phân tích thống kê mô tả các đặc tính của chủ hộ, quy mô lao động, chi phí, doanh thu, lợi nhuận.
    • Ứng dụng ma trận SWOT (Strengths - Weaknesses - Opportunities - Threats) kết hợp phân tích môi trường bên trong và bên ngoài để xây dựng các chiến lược kết hợp S-O, W-O, S-T, W-T.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc phát triển ngành nghề TTCN nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xác định mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể; giới hạn đối tượng, phạm vi không gian (3 xã thuộc huyện Hòa Thành) và thời gian thực hiện đề tài.

Chương 2: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Hòa Thành năm 2006:

  • Vị trí và địa hình: Nằm ở trung tâm tỉnh Tây Ninh, diện tích tự nhiên 8.271,74 ha, địa hình dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đất có thành phần cơ giới sét và phù sa gley thuận lợi cho sản xuất gạch. Khí hậu chia 2 mùa mưa - khô rõ rệt, số giờ nắng trung bình đạt 2.440 giờ/năm (9-11 giờ nắng/ngày), tạo điều kiện tốt cho công đoạn phơi gạch.
  • Cơ cấu đất đai và kinh tế:
Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất nông nghiệp 5.729,08 69,27
Đất lâm nghiệp 11,41 0,14
Đất chuyên dùng 1.084,07 13,10
Đất khu dân cư 1.126,26 13,62
Đất chưa sử dụng 320,92 3,88
Tổng diện tích tự nhiên 8.271,74 100,00
  • Dân số và lao động: Tổng dân số huyện là 142.720 người (thành thị chiếm 13,24%, nông thôn chiếm 86,76%). Lực lượng trong độ tuổi lao động là 81.517 người, tập trung đông nhất trong ngành nông nghiệp (29.177 người), tiếp đến là dịch vụ (26.539 người) và công nghiệp chế biến (9.236 người).
  • Hạ tầng giáo dục - y tế: Toàn huyện có 57 trường học với 609 phòng học (12 trường mầm non, 32 trường tiểu học, 9 trường THCS, 4 trường THPT); hệ thống trạm y tế xã hoàn chỉnh và có bệnh viện đa khoa tư nhân Cao Văn Chí thành lập năm 2005.

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản phẩm thủ công mỹ nghệ, lịch sử hình thành làng nghề từ hoạt động nông nhàn; các tiêu chí phân loại làng nghề (theo lịch sử, sản phẩm, tính ổn định); vai trò kinh tế - xã hội của làng nghề đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; chi tiết hóa các công thức toán kinh tế tính toán thu nhập, chi phí, lợi nhuận và quy trình xây dựng ma trận SWOT.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đánh giá thực trạng làng nghề TTCN và đi sâu vào làng nghề sản xuất gạch thủ công:

  • Hiện trạng các làng nghề tại Hòa Thành: Huyện có 5 làng nghề chính với cơ cấu doanh thu năm 2006 đạt 104,5 tỷ đồng. Làng nghề sản xuất gạch giữ vai trò chủ lực:
Tên làng nghề Địa bàn phân bố Mức độ phát triển Doanh thu 2006 (triệu đồng) Tỷ trọng cơ cấu (%)
Sản xuất gạch thủ công Long Thành Trung, Long Thành Nam, Trường Tây Phát triển 60.000 57,41
Mây tre Long Thành Trung Phát triển 30.000 28,70
Sản xuất nước tương Trường Hòa Phát triển 13.000 12,44
Bánh tráng Trường Đông Có nguy cơ lụi tàn 500 0,48
Đan lát Long Thành Nam Cầm chừng - -
Tổng cộng - - 104.500 100,00
  • Hình thức sở hữu và nguồn gốc làng nghề: Toàn huyện có 90 cơ sở sản xuất gạch, trong đó 87 hộ cá thể (chiếm 96,6%), 1 doanh nghiệp tư nhân (1,1%), 1 công ty TNHH (1,1%), 1 công ty cổ phần (1,1%). Nghề gạch có nguồn gốc từ người Hoa di cư đến định cư xen cài với người Việt từ cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX.

  • Quy trình sản xuất gạch thủ công: Gồm các công đoạn nối tiếp: Dẻ đất (chọn đất sét loại 2 làm gạch ống, loại 3 làm gạch thẻ) $\rightarrow$ Xáo đất (ủ đống $40\text{ m}^3$ bằng bạt cao su qua đêm) $\rightarrow$ Quay nề (dùng cung xắn đất) $\rightarrow$ Bỏ cối $\rightarrow$ Cắt gạch (dùng cây cung) $\rightarrow$ Phơi gạch $\rightarrow$ Chéo gạch $\rightarrow$ Xếp gạch vào lò (chia 3 tầng: gạch chân, gạch lòng tàu, gạch ngọn) $\rightarrow$ Nung gạch $\rightarrow$ Ra lò thành phẩm.

    • Kỹ thuật nung: Sử dụng lò thủ công đốt trấu qua 3 giai đoạn: Lửa nung (khoảng 5 ngày đầu làm khô gạch), Lửa nhì/Lửa nhen (2 ngày 2 đêm gạt vỉ cho gạch ửng hồng), Lửa lớn (đổ trấu liên tục 24/24, tiêu tốn 1/3 lượng trấu toàn bộ mẻ nung).
  • Kết quả khảo sát 45 hộ dân sản xuất gạch:

    • Hình thức tiêu thụ: 27 hộ tự sản xuất không theo đơn đặt hàng (60,00%), 11 hộ bán cho đại lý (24,44%), 5 hộ bán cho nhà vườn (11,11%), 2 hộ bán theo hợp đồng công trình (4,44%).
    • Đặc điểm chủ hộ: 100% chủ hộ là nam giới. Độ tuổi trung bình nhóm tự sản xuất cao nhất (54,6 tuổi), nhóm bán công trình trẻ nhất (38,0 tuổi). Trình độ học vấn: Cấp I có 3 hộ, Cấp II có 17 hộ, Cấp III có 25 hộ, không có trình độ đại học. 34 hộ làm nghề theo truyền thống gia đình (cha truyền con nối), 11 hộ học hỏi kinh nghiệm từ làm thuê.
    • Quy mô lao động và thu nhập: 30/45 hộ sử dụng từ 11 - 20 lao động (66,6%), 12 hộ dùng trên 20 lao động (26,6%), chỉ 3 hộ dùng dưới 10 người. Bình quân mỗi hộ có 19,75 lao động thường xuyên (lương bình quân 870.000 đồng/người/tháng, làm 23 ngày/tháng, 80% là thuê ngoài, 99,5% hợp đồng miệng) và 2,21 lao động không thường xuyên (lương 450.000 đồng/người/tháng, làm 16 ngày/tháng). Năng suất sản xuất bình quân một hộ/ngày đạt 3.500 viên gạch ống và 1.000 viên gạch thẻ.
    • Tác động kinh tế - xã hội: Làng nghề giải quyết việc làm cho 2.120 lao động (chiếm 2,6% tổng lao động toàn huyện). Riêng 45 hộ khảo sát sử dụng 855 lao động (1,04%).
    • Khó khăn của cơ sở: 36/45 hộ thiếu vốn sản xuất; 25/45 hộ thiếu mặt bằng mở rộng quy mô; 42/45 hộ gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân công; 100% hộ gây ô nhiễm khói cục bộ trong 3-4 ngày chuẩn bị chín mẻ gạch.
  • Phân tích ma trận SWOT và đề xuất nhóm giải pháp:

    • Giải pháp nguyên liệu: UBND tỉnh và huyện cần quy hoạch vùng khai thác đất sét tập trung, quản lý cấp phép nghiêm ngặt theo quy hoạch.
    • Giải pháp công nghệ và thiết bị: Khuyến khích cơ giới hóa khâu ép gạch; từng bước chuyển đổi từ lò nung thủ công sang lò đứng liên tục hiệu suất cao, lò Tuynel (vốn đầu tư 20-25 tỷ đồng) hoặc gạch không nung.
    • Giải pháp đào tạo và vốn: Mở các lớp tập huấn kỹ thuật, quản trị kinh doanh; thành lập Quỹ hỗ trợ ngành nghề nông thôn, hỗ trợ hộ tiếp cận vốn vay ưu đãi với lãi suất khoảng 0,6%/tháng (7,2%/năm).
    • Giải pháp quy hoạch và môi trường: Di dời các cơ sở gây ô nhiễm vào cụm công nghiệp tập trung, duy trì khoảng cách tối thiểu 50-100m so với khu dân cư theo Quyết định 505 của Bộ Y tế.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện nghiên cứu và đề xuất phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan quản lý: Sở Công nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Quỹ hỗ trợ ngành nghề nông thôn và các hộ sản xuất.


Kết quả và đóng góp

1. Kết quả chính từ số liệu nghiên cứu

  • Vị thế kinh tế của làng nghề: Làng nghề sản xuất gạch thủ công là ngành TTCN lớn nhất tại Hòa Thành, tạo ra doanh thu 60 tỷ đồng trong năm 2006, chiếm 57,41% tổng doanh thu TTCN toàn huyện và giải quyết việc làm ổn định cho 2.120 lao động địa phương.
  • Thực trạng tổ chức sản xuất: Sản xuất chủ yếu tồn tại dưới dạng hộ cá thể (96,6%), tỷ lệ tự sản xuất phân tán không có hợp đồng bao tiêu chiếm 60%. Hình thức quản trị mang tính gia đình, 100% sử dụng lao động hợp đồng miệng, thiếu liên kết ngang giữa các cơ sở sản xuất.
  • Rào cản nội tại: Mức độ cơ giới hóa thấp, phụ thuộc lớn vào thời tiết; chi phí đầu tư ban đầu cho một cơ sở gạch thủ công hoàn chỉnh (máy ép, nhà xưởng, lò nung) khoảng 190 triệu đồng nhưng có đến 80% số hộ (36/45 hộ) bị thiếu hụt nguồn vốn lưu động và vốn đầu tư chiều sâu.

2. Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

  • Quy hoạch không gian sản xuất: Phân loại cơ sở theo mức độ ô nhiễm; kiên quyết di dời các cơ sở gây ô nhiễm cao vào cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung có khoảng cách an toàn với khu dân cư ($50 - 100\text{ m}$).
  • Cơ chế tài chính tín dụng: Kiến nghị hình thành Quỹ hỗ trợ và bảo tồn làng nghề truyền thống huyện Hòa Thành, cho phép hộ sản xuất vay vốn với mức lãi suất ưu đãi 7,2%/năm, đa dạng hóa các hình thức liên kết góp vốn (công ty cổ phần, HTX) hoặc thế chấp quyền sử dụng đất.
  • Chuyển giao công nghệ nung: Đề xuất Sở Khoa học & Công nghệ giới thiệu công nghệ lò nung đứng liên tục hiệu suất cao và lò Tuynel nhằm thay thế dần các lò thủ công xả khói trực tiếp, tiến tới áp dụng công nghệ sản xuất gạch không nung.

3. Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng chi tiết về quy trình kỹ thuật, cơ cấu chi phí, lao động và chuỗi tiêu thụ sản phẩm gạch thủ công tại Tây Ninh năm 2007; đồng thời là cơ sở thực tiễn giúp chính quyền địa phương xây dựng đề án quy hoạch làng nghề nông thôn theo định hướng bền vững.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi khảo sát thực địa giới hạn tại 45 hộ trên địa bàn 3 xã trong khoảng thời gian ngắn (tháng 07 đến tháng 10/2007), chưa bao quát toàn bộ 90 cơ sở sản xuất gạch của huyện Hòa Thành.
    • Các công cụ phân tích chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả và định tính qua ma trận SWOT, chưa thực hiện các mô hình hồi quy kinh tế lượng để lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, nguyên liệu) đến lợi nhuận của hộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu khả thi tài chính và kỹ thuật chi tiết khi chuyển đổi từ lò nung trấu truyền thống sang công nghệ lò Tuynel hoặc công nghệ gạch không nung.
    • Đánh giá định lượng tác động môi trường (đo đạc nồng độ khí thải, bụi lò nung) đến sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh làng nghề.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên các ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Kinh tế tham khảo phương pháp luận khảo sát kinh tế hộ và phân tích làng nghề truyền thống.
    • Cán bộ quản lý tại Phòng Kinh tế/Thống kê huyện, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ tham khảo kinh nghiệm xây dựng chính sách hỗ trợ làng nghề gạch ngói.
  • Nội dung tham khảo nổi bật:
    • Bảng mô tả chi tiết quy trình 10 bước sản xuất gạch thủ công và kỹ thuật nung trấu qua 3 chế độ lửa (Lửa nung, Lửa nhì, Lửa lớn).
    • Mẫu bảng câu hỏi phỏng vấn hộ sản xuất làng nghề (Phụ lục 1) phục vụ công tác điều tra xã hội học nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Làng nghề sản xuất gạch thủ công đóng góp bao nhiêu phần trăm vào tổng doanh thu các làng nghề TTCN tại huyện Hòa Thành năm 2006?
Năm 2006, làng nghề gạch thủ công đạt doanh thu 60 tỷ đồng, chiếm 57,41% trong tổng doanh thu 104,5 tỷ đồng của 5 làng nghề TTCN trên địa bàn huyện Hòa Thành.

2. Quy mô mẫu khảo sát của khóa luận là bao nhiêu và phân bổ tại những địa bàn nào?
Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 45 chủ hộ/cơ sở sản xuất gạch thủ công phân bổ ngẫu nhiên tại 3 xã trọng điểm: Long Thành Trung, Long Thành Nam và xã Trường Tây.

3. Mức lương và thời gian làm việc bình quân của một lao động thường xuyên trong làng nghề là bao nhiêu?
Lao động thường xuyên đạt mức lương bình quân 870.000 đồng/người/tháng (tương đương 37,8 ngàn đồng/ngày) với thời gian làm việc trung bình 23 ngày/tháng.

4. Quy trình nung gạch thủ công bằng trấu diễn ra qua mấy giai đoạn lửa và trong thời gian bao lâu?
Quy trình nung chia làm 3 chu kỳ: Lửa nung (khoảng 5 ngày đầu để sấy khô gạch), Lửa nhì/lửa nhen (kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm để lò nóng đỏ) và Lửa lớn (đổ trấu liên tục 24/24 đạt nhiệt lượng tối đa trước khi bít lò làm nguội).

5. Khó khăn lớn nhất mà các hộ sản xuất gạch thủ công tại Hòa Thành gặp phải theo khảo sát là gì?
Khó khăn lớn nhất là thiếu vốn sản xuất với 36/45 hộ gặp phải (chiếm 80%), tiếp theo là khó khăn về tuyển dụng nhân công lao động (42/45 hộ) và thiếu mặt bằng mở rộng quy mô (25/45 hộ).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Hoài Phát đã phản ánh toàn diện thực trạng sản xuất kinh doanh của làng nghề gạch thủ công huyện Hòa Thành tỉnh Tây Ninh năm 2007. Kết quả nghiên cứu chứng minh làng nghề đóng vai trò then chốt trong việc tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nhưng đang đứng trước nguy cơ suy thoái do thiếu vốn, cạn kiệt nguyên liệu đất sét và công nghệ nung gây ô nhiễm môi trường. Hệ thống giải pháp đề xuất về quy hoạch cụm công nghiệp, đổi mới công nghệ lò nung và cơ chế tín dụng ưu đãi 7,2%/năm là cơ sở thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý và bảo tồn làng nghề truyền thống tại địa phương.