PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã định hướng và chỉ rõ, phát triển nông nghiệp là: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp.
đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”[16]. Phát triển nông nghiệp có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và xã hội, là sự nghiệp mang tính chiến lược của mỗi quốc gia. Phát triển kinh tế nông nghiệp là một phạm trù khoa học, nó biểu hiện năng lực tổ chức quản lý và trình độ của nền kinh tế, xã hội ở từng địa phương và cả nước. Trong sự hội nhập với kinh tế thế giới hiện nay, vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam.
Nông thôn Việt Nam với trên 70% dân số sinh sống và lao động. Sản phẩm khu vực này như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và dịch vụ rất cần cho nền kinh tế quốc dân, vì vậy nông nghiệp có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội nước ta. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế còn cho thấy nông nghiệp nước ta đã và đang bộc lộ tình trạng lạc hậu, yếu kém và chậm khắc phục như: cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa đáng kể, việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ rất hạn chế, công nghiệp chế biến và ngành nghề kém phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá khó khăn, tiếp cận thị trường thấp, chưa an ninh về lương thực, tụt hậu so với thành thị về nhiều mặt, môi trường bị ô nhiễm, lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 nông thôn có trình độ thấp và dư thừa, nhiều vùng có mức sống và dân trí thấp. Cơ sở hạ tầng nhiều nơi còn kém, trình độ sản xuất và quản lý còn lạc hậu, quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới… Cương lĩnh phát triển đất nước, trong các Nghị quyết của Đảng và gần đây là Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: “Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hợp tác hoá, dân chủ hoá; chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn; Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển và ngày càng hiện đại” trên cơ sở các biện pháp “Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn, chú trọng phát triển hệ thống thuỷ lợi, bảo đảm đường giao thông thông suốt đến trung tâm xã, có đủ trường học, trạm y tế và nước sạch cho sinh hoạt.
Bảo vệ môi trường sinh thái”; “Giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng CSVN tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội XI đã khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước.
Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp. đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng còn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm”; “Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.
Xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng doãng ra” và “Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số”. Nguyên nhân của những hạn chế và yếu kém theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là có nguyên nhân khách quan, “nhưng trực tiếp và quyết định nhất vẫn là nguyên nhân chủ quan”; “Nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu thống nhất” [16]. Huyện Võ Nhai là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở vị trí trung tâm của vùng miền núi và trung du Bắc Bộ.
Kinh tế nông lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trọng phát triển kinh tế của huyện, góp phần tích cực vào việc giữ vững và ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh lương thực trong địa bàn huyện.Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của huyện được chuyển dịch một phần sang phát triển sản xuất công nghiệp và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trọng bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sản xuất nông nghiệp của huyện đang bộc lộ những yếu kém, nổi bật như: Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến còn rất hạn chế, vẫn phổ biến là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Công nghệ, dịch vụ nông nghiệp phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế vào lao động nông thôn. Các hình thức tổ chức chậm đổi mới, chưa đáp ứng đựoc yêu cầu giải phóng nguồn lực - thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở địa phương.
Những mâu thuẫn yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH, HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội trong tương lai. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? Kinh tế nông lâm nghiệp của huyện Võ Nhai sẽ vận động và phát triển như thế nào trong bối cảnh hội nhập? Giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém, đảm bảo cho kinh tế nông nghiệp huyện Võ Nhai phát triển bền vững, từng bước đáp ứng các mục tiêu khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020? Đó là những vấn đề rất cần được lý giải có tính hệ thống cả về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế: “Một số giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên” nhằm vận dụng kiến thức học tập ở Nhà trường để góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Võ Nhai, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của huyện Võ Nhai trong giai đoạn tới. Mục tiêu cụ thể 1) Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn một huyện miền núi. 2) Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Võ Nhai, từ đó chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong những năm qua. 3) Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Võ Nhai trong thời gian tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Các vấn đề kinh tế nông nghiệp, nông thôn của hộ nông dân, trang trại,, cộng đồng ở vùng nông thôn trong địa bàn huyện miền núi Võ Nhai. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Luận văn chủ yếu đi sâu phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp) từ đó đề xuất giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm phát triển mạnh lĩnh vực này trên địa bàn huyện Võ Nhai đến năm 2015 và định hướng đến 2020 - Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Về thời gian: Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ năm 2009 - 2012.
Thời gian tiến hành thực hiện nghiên cứu luận văn là từ tháng 1/2011 đến tháng 6/2012. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan (1) Khái niệm về nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp a) Nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, sản xuất ra các sản phẩm thiết yếu phục vụ cho cuộc sống của loài người. Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà).
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội đã khẳng định nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng, xã hội loài ngươi muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có ăn, mặc và những tư liệu sinh hoạt khác do nông nghiệp cung cấp. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế.