CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về khu công nghiệp 1.1 Khu công nghiệp - Định nghĩa KCN: + Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. + Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế; “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. Như vậy, KCN được hiểu là khu vực tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất. - Đặc điểm KCN: + Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Sản phẩm của các doanh nghiệp trong KCN có thể xuất khẩu hoặc bán nội địa. + Có ranh giới địa lý xác định. Trong khu công nghiệp không có dân cư sinh sống. + Khu công nghiệp phải được thành lập theo quy định của Chính phủ, theo đúng điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 + Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng chế độ theo quy định của KCN. + Công ty Đầu tư Kinh doanh Hạ tầng là doanh nghiệp được thành lập, có chức năng kinh doanh cơ sở hạ tầng được Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN. Được UBND tỉnh, thành phố quyết định sau khi có chủ trương của Chính phủ. + Ban Quản lý các KCN là cơ quan chuyên ngành trực thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp.2 Quan điểm về phát triển KCN Phát triển KCN phải gắn với sự phát triển bền vững, cần chú ý đến việc phát triển hiệu quả kinh tế, xã hội công bằng, đảm bảo người lao động được trả công phù hợp, môi trường được bảo vệ, giữ gìn.
Do đó, phát triển KCN là việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định, KCN hoạt động hiệu quả, sự hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp trong KCN, mức sống của người lao động được đảm bảo, bảo vệ và giữ gìn môi trường sống.2 Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội 1.1 Vai trò tích cực của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội 1.1 Tạo nền tảng trong việc thu hút nguồn vốn FDI Phát triển các KCN tạo nền tảng trong việc thu vốn nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, đặc biệt là vốn FDI. Đây là một trong những giải pháp hiệu quả trong quá trình đẩy mạnh phát triển công nghiệp, hướng tới xây dựng một nền công nghiệp hiện đại. Trong tình hình kinh tế hiện nay KCN càng phát huy được vai trò thu hút và đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư; từ đó đã thực sự có đóng góp không nhỏ trong việc huy động nguồn lực vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Qua hơn 20 năm, KCN đã trở thành địa điểm hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong các KCN chiếm khoảng 80% tổng vốn FDI vào ngành công nghiệp trong cả nước.
Tính đến hết năm 2013, cả nước có 289 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên trên 81.067 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký là 218.841,82 triệu USD, các KCN, KKT đã thu hút được 2,1 triệu lao động. Lũy kế đến năm 2013, các KCN trên cả nước đã thu hút được 5.075 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 75,8 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 55% vốn đăng ký (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013).2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng, các địa phương Thực tiễn việc xây dựng và phát triển các KCN đã có những đóng góp ngày càng lớn vào việc nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong GDP của cả nước. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đã tăng lên đáng kể từ mức khoảng 8% năm 1996 lên 14% năm 2000 và hiện nay, giá trị sản xuất công nghiệp tại các KCN, KCX, chiếm khoảng 34-35% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp KCN trên thị trường thế giới được nâng cao đáng kể trong thời gian qua, thể hiện ở giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN tăng đều qua các năm.
Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã tăng từ mức khoảng 15% năm 2000 lên khoảng 20% năm 2010. Trong năm 2013, tại các KCN, KKT tổng doanh thu đạt hơn 100 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2012; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 51,5 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2012; kim ngạch nhập khẩu đạt 46,8 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2012; nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 66,6 ngàn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Tiếp nhận nền công nghệ và phương pháp quản lý sản xuất tiên tiến Cùng với dòng vốn FDI vào các dự án sản xuất, kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong đó, đặc biệt phải kể đến những dự án công nghệ kỹ thuật cao tập trung ở KCN của các thương hiệu lớn như Canon, Samsung, Mabuchi Motor, Orion Hanel., những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử.
Các dự án đầu tư nước ngoài vào KCN không những góp phần nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm của các doanh nghiệp KCN, mà qua mối quan hệ hợp tác đầu tư với nước ngoài, vị thế và sức hấp dẫn đầu tư của Việt Nam trên trường quốc tế được cải thiện và góp phần đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác quốc tế và khu vực.4 Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việc thành lập và hoạt động của các KCN, đã thu hút nhiều doanh nghiệp vào đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó thu hút một lực lượng lao động đáng kể làm việc trong các KCN. Đến nay, các KCN đã thu hút được khoảng trên 2,1 triệu lao động trực tiếp, nếu tính cả số lao động gián tiếp thì số lao động thu hút được còn lớn hơn nhiều. Nhiều KCN đã xây dựng các cơ sở dạy nghề như: Trung tâm dạy nghề Việt Nam - Singapore, Trường Kỹ nghệ Thừa Thiên Huế, Trường Cao đẳng kỹ thuật – công nghệ Sonadezi. Đồng Nai đã hình thành mô hình liên kết đào tạo và sử dụng nhân lực giữa các KCN và nhà trường như phối hợp giữa trường Đại học Lạc Hồng và KCN trong việc hướng dẫn sinh viên thực tập và giải quyết việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.
KCN tự đào tạo nghề là hướng rất quan trọng để giải quyết tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật hiện nay. Phát triển KCN cũng đồng nghĩa với hình thành và phát triển mạnh mẽ thị trường lao động, nhất là thị trường lao động trình độ cao ở nước ta. Cạnh tranh và quan hệ cung - cầu lao động diễn ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ở khu vực này cũng rất gay gắt, tạo động lực để lao động không ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề. Lực lượng lao động làm việc trong các KCN có cơ hội tiếp cận và tiếp thư phương thức sản xuất tiên tiến, trình độ quản lý chuyên nghiệp từ đó đòi hỏi lực lượng lao động phải không ngừng học tập và hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng.
KCN có mô hình tổ chức và quản lý nói chung, tổ chức và quản lý nhân lực nói riêng, rất tiên tiến, đạt trình độ quốc tế và đa dạng. Đây là môi trường rất tốt để đào tạo, chuyển giao khoa học quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp của Việt Nam để có thể thay thế dần lao động quản lý người nước ngoài.5 Tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng công nghiệp mới, hiện đại, có giá trị lâu dài đồng thời góp phần hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện hết sức quan trọng và cấp thiết của một địa phương và cả nền kinh tế. Xây dựng KCN đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài không chỉ đối với địa phương có KCN mà có góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước, góp phần tích cực vào quá trình đô thị hóa. Các KCN đã hoàn thành đầu tư cơ bản và đi vào hoạt động, kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ và hoàn thiện đã góp phần thay đổi diện mạo của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh thu hút vốn FDI vào KCN; đây cũng tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy mối liên kết kinh tế ngành và vùng trong cả nước.
Tại các KCN hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật nói chung khá hoàn chỉnh, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế nhất là đường sá, kho bãi, điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc và các cơ sở dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm. Quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động xã hội yêu cầu trước hết là xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. Các KCN chính là những điểm đột phá, những mô hình tối ưu về xây dựng cơ sở hạ tầng, nên có tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng CNH, HĐH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Ảnh hưởng hạn chế và tồn tại trong quá trình phát triển khu công nghiệp Bên cạnh những đóng góp tích cực của KCN đối với nền kinh tế, xã hội; việc hoạt động của các KCN cũng còn một số ảnh hưởng hạn chế và tồn tại.