CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Các vấn đề cơ bản về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp M&A tức là Merger and Acquisitions tức là mua bán và sáp nhập, chỉ việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp qua hoạt động giành quyền kiểm soát. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tài liệu định nghĩa khác nhau về M&A, thế nhưng các khái niệm này lại mang tính chất khá tương đồng.
Theo Investopedia sáp nhập và mua lại được hiểu rộng rãi trên thế giới như sau: “Sáp nhập (Merger) là sự hợp nhất của hai công ty hoặc nhiều công ty để tạo thành một công ty duy nhất có quy định lớn hơn. Kết quả của việc làm đầu vào là một công ty sống sót (giữ được tên và đặc thù) còn công ty còn lại ngừng hoạt động như một tổ chức riêng biệt. Trường hợp cả hai công ty đều ngừng hoạt động và một công ty mới ra đời từ thương vụ sáp nhập được gọi là hợp nhất (Consolidation)”. Hợp nhất là trường hợp đặc biệt của sáp nhập, vì vậy để đơn giản và thuận tiện, chúng ta sẽ sử dụng thuật ngữ “sáp nhập” ngầm ý bao gồm cả trường hợp “hợp nhất”.
“Mua lại (Acquisitions) là hành động mua lại cổ phiếu hoặc tài sản của một công ty nhằm trở thành chủ sở hữu. Công ty mua lại được gọi là công ty đi mua (người mua), công ty được mua gọi là công ty mục tiêu (mục tiêu)”. Trong trường hợp mua lại thì công ty mục tiêu trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty mua lại. Ở Việt Nam, khái niệm về mua bán sáp nhập doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp 2014.
Sáp nhập doanh nghiệp: “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.(1) 3 Hợp nhất doanh nghiệp: “Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty hợp nhất”.(1) Theo Luật cạnh tranh 2004 đã đề cập. “Mua lại doanh nghiệp là việc doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ điều kiện, chi phối toàn bộ hoặc một ngành của doanh nghiệp bị mua lại”.(2) Việc đầu tư góp vốn vào quy trình M&A đã được Luật đầu tư 2005 đề ra: “Nơi tư vấn thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp như một trong các hình thức đầu tư trực tiếp dưới hình thức: đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia gia quản lý hoạt động đầu tư, mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp”. (3) Mục tiêu của các giao dịch M&A diễn ra đơn thuần nhằm sở hữu quyền kiểm soát của một doanh nghiệp ở mức độ nhất định chứ không chỉ để sở hữu cổ phần hay vốn góp của doanh nghiệp như hoạt động đầu tư chứng khoán thông thường. Cho nên, khi một chủ thể đầu tư có khả năng đạt được mức sở hữu hay vốn góp nhằm tham gia hoặc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì sẽ được cho là hoạt động M&A.
Phân loại mua lại và sáp nhập doanh nghiệp - Sáp nhập chiều ngang: Sáp nhập chiều ngang là quá trình một công ty mua lại hoặc hợp nhất với một công ty hoạt động trong cùng một lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ. Điều này giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trong khoa, tăng trưởng thị phần và nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều dọc: Sáp nhập chiều dọc là quá trình một công ty mua lại hoặc hợp nhất với một công ty hoạt động trong cùng một chuỗi cung ứng hoặc ngành sản xuất khác nhau, từ giai đoạn sản xuất đầu ra đến giai đoạn sản xuất đầu ra. Điều này cho phép công ty mua lại hoặc hợp nhất kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng của mình, từng bước tăng cường độc quyền và giảm chi phí.
4 - Sáp nhập kiểu tập đoàn: Tập đoàn là một tập hợp các công ty con, có quan hệ quản lý và tài chính tương ứng với nhau và hoạt động dưới một thương hiệu chung. Tập đoàn thường được thành lập thông qua sáp nhập hoặc hợp nhất các công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực hoặc trong các lĩnh vực khác nhau nhằm mục đích mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường khả năng cạnh tranh và tối ưu hóa quy trình sản xuất xuất và kinh doanh.1: Các kiểu mua lại và sáp nhập doanh nghiệp phổ biến 1. Các quy trình cơ bản của hoạt động M&A Xét về mặt lý luận, một thương vụ M&A đơn thuần cũng diễn ra như bất cứ giao dịch nào khác, nội dung và hình thức giao dịch cần được chú trọng nếu muốn đạt được một kết quả tốt. Ngoài ra, để đạt được hiệu quả tích cực, một thương vụ M&A cần đạt đủ hai điều kiện: Giao dịch nhằm mục đích gì và giao dịch bằng phương pháp nào? Thực chất câu hỏi “giao dịch nhằm mục đích gì?” là để đưa ra mục tiêu và động cơ của các bên tham gia.
Đây cũng là các kỳ vọng, mong muốn của các bên tham gia 5 thương vụ và là động cơ chủ chốt để dẫn lối cho các bên về việc đưa ra quyết định và đặt ra các bước thực hiện công việc. Tóm lại, các bên giao dịch cần phải cụ thể hóa dựa trên mục tiêu thực tế để đảm bảo được mục tiêu đã đề ra. Mặt khác, câu hỏi giao dịch “bằng phương pháp nào?” thực chất là để đáp ứng cho các công việc cụ thể đó. Có nhiều bước cũng như các cách thức thực hiện một thương vụ M&A, tuy nhiên quan trọng nhất đầu tiên chính là yếu tố pháp lý dựa trên sự cho phép của pháp luật để tiến hành một thương vụ.
Yếu tố pháp lý trong một thương vụ M&A cũng rất đa dạng. Đó chính là các thủ tục, trình tự cũng như các điều kiện đã được quy định bởi luật pháp mà các bên giao dịch cần tuân thủ. Không chỉ vậy, hình thức pháp lý của một giao dịch M&A sẽ quyết định các công việc và các quy trình cụ thể khác cần có để tiến hành giao dịch M&A. Thị trường M&A của Việt Nam tuy còn đang trên đà phát triển, nhưng với mức độ của thị trường trong giai đoạn hiện nay, khung pháp lý để triển khai các giao dịch M&A đã được phát triển và về cơ bản có thể cho là đã đầy đủ.
Mặt khác, không ít những quan điểm trái chiều cho rằng hành lang pháp lý trong hoạt động M&A của Việt Nam còn nhiều thiếu sót và rời rạc, chưa trợ giúp tốt cho sự phát triển của M&A. Hiện nay, các quy định của luật pháp Việt Nam chỉ tồn tại một số vấn đề riêng lẻ cần giải quyết để làm rõ ràng hơn yếu tố pháp lý trong hoạt động M&A, như quy định về vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, xác định cụ thể thế là nhà đầu tư nước ngoài một cách minh bạch (Khối lượng vốn đầu tư nước ngoài là bao nhiêu để coi là công ty có vốn đầu tư nước ngoài?, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được cho là nhà đầu tư nước ngoài không?). Sau khi các vấn đề nêu trên đã được xác định, còn phụ thuộc vào nội dung và phương pháp giao dịch M&A (mua bán cổ phần hay sáp nhập hợp nhất…) mà các bên tham gia triển khai các công việc cần làm. Cụ thể, các công việc mà các bên giao dịch cần thực hiện là: Xác định cho mình doanh nghiệp mục tiêu cho M&A: Để đảm bảo sự chắc chắn cho một thương vụ, nếu có thể, các bên giao dịch cần đưa ra lựa chọn nhiều hơn một doanh nghiệp mục tiêu.
Doanh nghiệp mục tiêu ở đây có thể được coi là bên mua hoặc/ 6 và bên bán chứ không chỉ đơn thuần là bên bán, bởi thực chất điều này được sinh ra từ chính nhu cầu thực hiện M&A của các bên giao dịch chứ không chỉ của riêng một bên bán hay bên mua. Trong quá trình xác định doanh nghiệp mục tiêu, các bên cần phải có được các thông tin minh bạch và chính xác về doanh nghiệp mục tiêu, tuy nhiên các thông tin này không phải bên tham gia M&A nào cũng dễ dàng có được. Hiện nay có rất nhiều phương thức để tiếp cận và nắm được thông tin của các bên tham gia M&A, điển hình là hợp tác với một trung gian tài chính như các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, tổ chức tín dụng, … Xác định giá trị giao dịch: Việc xác định giá trị giao dịch không hoàn toàn giống với công tác định giá doanh nghiệp. Thực chất, hoạt động định giá doanh nghiệp được coi là một phương tiện hay công cụ để các bên có thể xác định được giá trị để giao dịch, dựa trên giá trị đã được xác định và những điều khoản cụ thể mà các bên giao dịch có thể thương lượng và đàm phán các mức giá giao dịch khác nhau.
Việc coi trọng giá trị bên mua là quan trọng nhưng việc xác định giá trị của bên bán cũng quan trọng không kém. Việc định giá của bên bán chính là cơ sở để đưa ra các đàm phán giao dịch cũng như dựa trên đó để có thể đưa ra những mức giá phù hợp và hợp lý nhất. Đàm phán, giao kết và thực hiện thỏa thuận, hợp đồng giao dịch M&A: Đây là một bước quan trọng bởi nó dẫn tới kết quả và nội dung của giao dịch, đồng thời chính là các thỏa thuận liên quan tới hợp đồng của thương vụ M&A giữa các bên. Quá trình này cần được đặc biệt chú trọng trong một giao dịch M&A vì nếu một hợp đồng M&A không đề ra đầy đủ các kết quả của những công việc trước đó, các kỳ vọng và mong muốn hạn chế tối đa các rủi ro thì những công việc đã thực hiện trước đó sẽ bị suy giảm giá trị đi rất nhiều.
Một hợp đồng M&A không những đại diện cho yếu tố pháp lý. Hợp đồng M&A là một tổng kết cụ thể, minh bạch của các yếu tố như tài chính, kinh doanh, công nghệ… của các bên tham gia.