lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu Chƣơng 2: Tổng quan về lý thuyết cho vay tiêu dùng của NHTM Chƣơng 3: Phân tích hiện trạng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Sacombank chi nhánh Lê Văn Sỹ, quận Tân Bình Chƣơng 4: Giải pháp phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Sacombank chi nhánh Lê Văn Sỹ, quận Tân Bình. 3 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CỦA CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM 2.1 Khái niệm, đặc trƣng tín dụng tiêu dùng của NHTM Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định (Nguyễn Minh Kiều (2005), Nghiệp vụ Ngân hàng Thƣơng Mại, trang 54) Một là, tín dụng tiêu dùng NHTM dựa trên sự tin tưởng giữa khách hàng và NHTM. Đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết của tín dụng. Một khi NHTM quyết định cho khách hàng vay thì cũng đã đặt niềm tin của mình lên khách hàng rằng họ sẽ trả tiền vay vào đúng thời hạn.
Khách hàng khi đã nhận đƣợc vốn vay thì họ cũng sẽ cố gắng phát huy hiệu quả sử dụng vốn của mình. Chính lòng tin giữa khách hàng và NHTM đã hình thành nên mối quan hệ tín dụng này. Cơ sở của sự tin tƣởng này có thể đƣợc hình thành từ uy tín của khách hàng vay vốn, giá trị tài sản thế chấp hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Hai là, tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời giá trị (số tiền) từ NHTM đến khách hàng trong một thời hạn nhất định, kèm theo sự cam kết về việc trả gốc lẫn lãi.
Đó là sự thỏa thuận giữa NHTM và khách hàng nhằm sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất. Tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhƣợng vốn nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định, không có quyền thay đổi số lƣợng vốn cũng nhƣ quyền sở hữu vốn. Ba là, tính hoàn trả đúng thời gian cả về giá lẫn giá trị. Lƣợng vốn mà NHTM cho khách hàng vay sau một thời gian phải đƣợc hoàn trả đúng về số lƣợng lẫn giá trị vốn và lãi vay.
Phần lãi vay mà khách hàng phải trả chính là cái giá của sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn có thêm một số những đặc điểm riêng khác là: Đối tƣợng của cho vay tiêu dùng là khách hàng cá nhân và hộ gia đình. Chính vì thế, cho vay tiêu dùng chủ yếu phục vụ nhu cầu của hai nhóm khách hàng này. Nguồn trả nợ của khoản vay tiêu dùng thƣờng từ tiền lƣơng hàng tháng, kinh doanh cá thể của khách hàng, không nhất thiết là kết quả của việc sử dụng vốn vay nên đòi hỏi nguồn trả nợ mang tính thƣờng xuyên, ổn định.
Cho vay tiêu dùng là hình thức bán lẻ, giá trị của các khoản vay thƣờng nhỏ, dẫn đến chi phí khoản vay cao. Do đó, lãi suất khoản vay tiêu dùng thƣờng cao hơn so với các khoản vay thƣơng mại khác.2 Nguyên tắc của tín dụng tiêu dùng Nhƣ chúng ta đã biết, cho vay tiêu dùng là một bộ phận của tín dụng ngân hàng nên có những nguyên tắc giống nhƣ của tín dụng ngân hàng. Một là, tín dụng có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định. Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc đảm bảo thực chất của tín dụng ngân hàng.
Khách hàng khi vay vốn phải cam kết với NHTM là sẽ thanh toán cả gốc lẫn lãi sau một thời hạn nhất định, cam kết này sẽ đƣợc ghi trong khế ƣớc vay nợ hoặc hợp đồng tín dụng. Một khi nguyên tắc này không đƣợc đảm bảo thực hiện đầy đủ thì tín dụng ngân hàng sẽ bị phá vỡ. Hai là, tín dụng có giá trị tương đương làm đảm bảo. Một số tài sản có thể làm tài sản đảm bảo trong tín dụng ngân hàng là vật tƣ hàng hóa trong kho, trên đƣờng, tài sản cố định của doanh nghiệp, số dƣ trên tài khoản tiền gửi, hóa đơn chuẩn bị nhập hàng hoặc có thể là giấy cam kết trả nợ cho ngân hàng của các cơ quan khác, thậm chí có thể là uy tín của khách hàng.
Tài sản đảm bảo là cơ sở của khả năng trả nợ của khách hàng nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong nhiều trƣờng hợp khác. Ba là, tín dụng có mục đích, đƣợc thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phản ánh nhu cầu của khách hàng, là cơ sở pháp lý cho các bên tham gia quan hệ tín dụng, là điều kiện để ngân hàng cũng nhƣ khách hàng tính toán các yếu tố và hiệu quả của quá trình kinh doanh.3 Vai trò của tín dụng tiêu dùng trong nền kinh tế thị trƣờng Đối với nền kinh tế: Tín dụng tiêu dùng làm giảm đáng kể khối lƣợng tiền lƣu hành ngoài thị trƣờng. Từ đó làm kiềm chế một phần lạm phát, giúp phần nào ổn định tiền tệ.
Bên cạnh đó, tín dụng tiêu dùng đã góp phần giảm thiểu nhu cầu về vốn của khách hàng từ đó kích cầu cho nền kinh tế, gia tăng sản xuất, hàng hóa ngày càng đa dạng đáp ứng đƣợc nhu cầu cho khách hàng. Kết quả tiếp theo mà ta dễ dàng nhìn thấy là thu nhập của ngƣời dân đƣợc tăng lên, mà lúc này đối tƣợng đƣợc tăng lƣơng chính là khách hàng vay tiêu dùng của NHTM. Từ đó, có thể thấy tín dụng tiêu dùng góp phần làm ổn định giá cả trên thị trƣờng, phát triển xã hội, đời sống ngƣời dân trở nên ổn định hơn, tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động,… làm tiền đề cho việc ổn định xã hội. Đối với ngân hàng Tín dụng tiêu dùng là một kênh thuận lợi cho các ngân hàng tiếp cận khách hàng, nhằm mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng khách hàng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng nhƣ tiền gửi, tiền thanh toán, các dịch vụ chuyển tiền, 5 chuyển hộ, giữ hộ….giúp ngân hàng đa dạng hóa các dịch vụ của chính mình, nâng cao thu nhập đồng thời phân tán đƣợc rủi ro trong kinh doanh.
Đối với khách hàng: Việc mở rộng hệ thống tín dụng tiêu dùng sẽ hỗ trợ ngƣời dân trong việc chi tiêu đồng thời nâng cao mức sống và trình độ dân trí của họ. Một khi nhu cầu chi tiêu đƣợc đáp ứng thì sẽ giúp ngƣời lao động càng lao động làm việc tích cực, sáng tạo và đạt đƣợc năng suất cao hơn. Qua hoạt động tín dụng tiêu dùng, ngƣời dân có thể tiết kiệm tích lũy để đầu tƣ, phát triển nhƣ mua nhà, xây dựng, sữa chữa nhà ở, du học, mua xe, giải trí…. từ đó làm cho đời sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao và hoàn thiện hơn nữa.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng không những là một trong những hoạt động quan trọng của NHTM mà còn có ảnh hƣởng to lớn và sâu rông đến sự phát triển của cả kinh tế - xã hội.2 ĐỐI TƢỢNG VÀ ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM 2.1 Đối tƣợng của cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm cả hộ cá nhân và gia đình. Cho vay tiêu dùng tạo ra nguồn tài chính giúp khách hàng trang trải nhu cầu tiêu dùng trƣớc khi tích lũy tiết kiệm đủ cho một khoản tiêu dùng, nhƣ nhu cầu mua nhà ở, mua sắm đồ gia đình, xe cộ, đóng tiền học phí, chi phí y tế, du lịch. Thông thƣờng, đối tƣợng khách hàng của cho vay tiêu dùng là những khách hàng có thu nhập tƣơng đối ổn định. Tuy nhiên, nƣớc ta chỉ mới bắt đầu thực hiện nền kinh tế thị trƣờng trong khoảng 30 năm trở lại đây, nên nhiều ngƣời dân vẫn còn khá là e ngại với hình thức cho vay tiêu dùng của NHTM.
Khách hàng hiện nay vẫn còn mang những tâm lý nhƣ ngại rủi ro khi giao dịch tiền bạc với ngân hàng, ngại phiền phức thủ tục khi giao dịch với ngân hàng. Có một vài khách hàng xem NHTM nhƣ là một nhà cầm đồ. Khách hàng còn cho rằng khi giao dịch với khách hàng sẽ bị lộ thông tin về thu nhập.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của NHTM có các đặc điểm nhƣ sau: Một là,quy mô của khoản vay thƣờng nhỏ, số lƣợng các khoản vay nhiều nhƣng thu nhập lại không cao. Chính vì thế, NHTM cần phải lấy số lƣợng nhiều của các khoản vay mới mong có thể tăng đƣợc nguồn thu nhập của hoạt đồng cho vay tiêu 6 dùng.
Để làm đƣợc điều này, NHTM cần đẩy nhanh tiến độ thẩm định dự án cũng nhƣ có sự đầu tƣ về công nghệ online để thuận tiện hơn cho khách hàng. Hai là, cho vay tiêu dùng thƣờng có rủi ro cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực thƣơng mại và công nghiệp, chính vì thế, lãi suất của cho vay tiêu dùng thƣờng cao hơn so với những lĩnh vực khác. Nhƣng cho vay tiêu dùng có một đặc điểm là có nhiều khách hàng khác nhau nên rủi ro đƣợc phân tán rộng. Do đó, khi rủi ro xảy ra thì không ảnh hƣởng nhiều đến hoạt động của NHTM.
Ba là, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thƣờng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.Một khi kinh tế tăng trƣởng ổn định thì nhu cầu tiêu dùng ứng trƣớc của khách hàng sẽ tăng nhanh, khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái thì hoạt động này sẽ giảm mạnh. Bốn là, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu nhƣ ít co giãn với lãi suất. Số tiền mà khách hàng vay thƣờng không nhiều nên sự biến động lãi suất làm chênh lệch số tiền hàng tháng mà ngƣời tiêu dùng phải trả là không nhiều, vì thế không có sự tác động nhiều đến khách hàng khi có sự biến động về lãi suất xảy ra. Khách thƣờng quan tâm đến việc NHTM sẽ cho vay bao nhiêu trên số tài sản đảm bảo hay trên thu nhập của họ.
Năm là, mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng. Với một mức thu nhập khá và tƣơng đối ổn định, khách hàng sẽ có thể tin rằng mình có khả năng thanh toán nợ vay mỗi khi đến hạn, chính vì lý do đó, họ mới có nhu cầu vay tiêu dùng thƣờng xuyên hơn.